Triết gia Diogène

1105

Một trong những triết gia quan hệ của học phái Khuyến nho tại Hy lạp thế kỷ thứ IV trước Thiên Chúa (413-323). Ông đề xướng:

– Phải coi rẻ học vấn, danh vọng, tiền của.

– Thoát khỏi mọi dục vọng.

– Hạn chế đến cùng những nhu cầu của mình.

– Sống theo thiên  nhiên.

Đó là tất cả triết học của Diogène.

Hằng ngày triết gia sống rất đơn giản: đi chân không, ngủ dưới cổng các đền thờ, ở trong một cái thùng tròn thay thế cho cái nhà, che thân bằng một tấm vải mà thôi. Một hôm, triết gia thấy một em bé uống nước bằng cách bụm hai tay lại và hứng nước, triết gia tự bảo: “Thằng nhỏ này cho mình biết rằng: mình vẫn có một vật thừa”. Nói xong, triết gia đập bể cái chén uống nước của triết gia dùng hàng ngày.

Tiên sinh coi rẻ người đời quá đỗi, đến nỗi một hôm người ta gặp triết gia đi trong thành phố Athènes, giữa ban ngày mà xách một đèn sáng. Ai hỏi làm gì buồn cười thế thì triết gia trả lời: “Tôi tìm một người”.

Khinh thường lý luận triết học, cho là xa thực tế và rườm rà. Một hôm ông cho nhổ sạch lông gà rồi cho thả ra. Ai hỏi tiên sinh làm gì  vậy, ông chỉ con gà trần trụi mà trả lời: “Đó là con người”. Tiên sinh muốn nhạo báng triết gia Platon vì Platon đã định nghĩa: “Người là con vật có hai chân và không có lông”.

Dân Athéniens rất mến phục triết gia.

Con người là xác là hồn 

Bằng ngôn ngữ biểu tượng, Kinh Thánh mô tả “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Như thế, nơi con người có cả yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, và cả hai tạo nên bản tính duy nhất, liên kết chặt chẽ với nhau: con người duy nhất xác hồn.

“Xét về thể xác, con người là một tổng hợp những yếu tố thuộc thế giới vật chất” (MV 14), nhưng tổng hợp vật chất ấy lại được linh động hóa bởi nguyên lý tinh thần là hồn thiêng. Vì thế,“con người không lầm lẫn khi họ nhận biết mình cao cả hơn vũ trụ vật chất, và không chỉ coi mình như một mảnh vụn của thiên nhiên hay như một phần tử vô danh trong xã hội loài người. Bởi vì nhờ có nội giới, con người vượt trên mọi vật” (MV 14).

Hồn thiêng ấy do Thiên Chúa trực tiếp tạo nên và ban tặng, chứ không do cha mẹ tạo nên. Đồng thời, hồn thiêng mang tính bất tử, không bị tiêu diệt, kể cả khi hồn lìa khỏi xác trong giờ chết, nhưng sẽ kết hợp lại với thân xác trong cuộc phục sinh sau cùng.

Mặc khải của Thiên Chúa về phẩm giá con người phải trở thành ánh sáng soi lối cho cuộc sống người Kitô hữu, trong cuộc sống của mỗi người cũng như trong mọi mối quan hệ đời sống.

  1. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Phẩm giá cao quý ấy được bộc lộ trọn vẹn nơi Đức Giêsu, Đấng Thiên Chúa làm người, và đã tự đồng hóa mình với những người nghèo khổ, hèn mọn nhất. Chính vì thế, người Kitô hữu phải biết tôn trọng con người, những con người cụ thể ta gặp trong cuộc sống, dù là trẻ thơ hay già cả, giầu có hay nghèo hèn, mạnh khỏe hay yếu đau, bạn hay thù… vì tất cả đều là hình ảnh của Thiên Chúa, và Đức Giêsu đang hiện diện trong họ (x. Mt 25,40).
  2. Ý thức về con người duy nhất xác hồn giúp người Kitô hữu ý thức bản chất và vận mạng cao cả của mình, để biết ngẩng đầu lên và hướng lòng đến những sự trên trời. Phát triển kinh tế và những tiện nghi vật chất là điều cần thiết và hữu ích, nhưng chúng ta cũng dễ bị cám dỗ để quên mất rằng “Nhân linh ư vạn vật”“mang trong lòng những khát vọng vô biên, được mời gọi tới một cuộc sống cao cả hơn” (MV 10). Vì thế, phải hướng đến việc phát triển con người toàn diện, chứ không chỉ về thân xác và vật chất mà thôi.