Một ngày

698

Đức TGM Dom Helder Camara, mệnh danh là “Giám mục của người nghèo”, mà tên tuổi và hoạt động liên hệ chặt chẽ với “thần học Giải phóng” và bất bạo động, đã qua đời ngày 27.8.1999 tại Recife, hưởng thọ 90 tuổi. Suốt đời ngài luôn tranh đấu cho người nghèo, cho kẻ bị chính quyền đàn áp. Ngài đã giáo hóa cho lớp dân thấp cổ bé họng, biết nắm lấy trách nhiệm của mình. Nhưng ngài không được hàng giáo phẩm Ba-Tây (bảo thủ) ủng hộ và Tòa thánh tán thành đường lối hoạt động đấu tranh đó; dẫu vậy, ngài vẫn tiếp tục hoạt động cho dân nghèo… Ngài nói: “Nếu tôi cho người nghèo ăn, người ta bảo tôi là một vị thánh. Nếu tôi hỏi tại sao người nghèo không có gì ăn, người ta gán cho tôi là theo cộng”. Cuộc tranh đấu với chính quyền độc tài và cho dân nghèo, làm ta nhớ đến ĐGM Oscar Roméro.

NGÀI LÀ AI?

Dom Helder Camara sinh ra ở Fortaleza (Ba-Tây) ngày 7.2.1909, cầm tinh con Gà. Và Gà hành Thổ, tức là người thông minh, lại có tính cách thực tế, rõ ràng minh bạch. Có ý chí đeo đuổi công việc đến cùng, mặc cho ai cản ngăn, nhiều khi đâm ra quá say mê, không chịu nghe ai. Đó là một vài đặc điểm mà ta sẽ thấy trong đời sống của ngài về sau.

Khi còn là linh mục trẻ tuổi, ngài đã được giao phó trọng trách lo mục vụ cho các thành phần trí thức ở Fortaleza, rồi về sau trở nên thành viên của Hội đồng cao cấp ngành giáo dục của Rio de Janeiro. Ngài nổi tiếng là người có sức lôi cuốn quần chúng, và có nhiều đặc tính như ta nói ơ trên, nên được cơ quan hành chánh địa phương, báo chí, bộ quốc gia giáo dục nói đến rất nhiều… làm cho ngài trở nên một trong những nhân vật bình dân nổi tiếng của thủ đô bấy giờ. Nhưng ngài lại muốn phục vụ cho hàng giáo sĩ và nền đạo đức.

GIÁM MỤC XÓM Ổ CHUỘT

Khi được chọn làm giám mục phụ tá của Rio de Janeiro năm 1952, ngài hợp với một số các giám mục khác, bắt tay vào việc thành lập Hội đồng GM Ba-Tây – mà ngài giữ chức chủ tịch trong vòng 12 năm – và trở nên TGM Phụ tá de Rio năm 1955. Từ đó ngài được vài nhân vật giáo sĩ khuyến khích nên lo cho số phận của những người nghèo trong nước. Vì thế, ngài không ngừng lên tiếng bênh vực kẻ nghèo và kẻ bị áp bức đến nỗi ngài đã được mệnh danh là “Giám mục các nhà ổ chuột”. Ngài đã thành lập một tổ chức cứu trợ mang tên “Nhà Băng của Chúa quan phòng”

VẠCH HƯỚNG ĐI MỚI

Năm 1964, vào lúc mà quân đội lên nắm chính quyền và bắt bớ những phần tử “phá hoại”, ngài được phong lên chức TGM địa phận Olinda và Recife. Hơn bao giờ hết, ngài ước muốn liên kết xã hội trần gian với giáo hội để bênh vực cho người nghèo, cho nên ngài tố cáo công khai những bất công trong nước, cho ra đời “chiến dịch Hy vọng” nhằm giáo dục và làm cho dân chúng nghèo, biết nhận lãnh trách nhiệm của mình. Ngài vừa là hiện thân cho tinh thần chống đối nạn độc tài của chính phủ quân nhân đã gieo tang tóc cho Ba-Tây từ năm 1964 đến 1985, vừa là người cố gắng tìm một hình thức mới mẻ trong sự liên hệ giữa đạo và chính trị. Ngài chỉ tin tưởng nơi Giáo hội và người tín hữu là khi cả hai biết dấn thân tranh đấu cho sự bất công. Ngài đã thành lập nhiều hệ thống (nhất là tiểu tổ căn bản), để suy tư về chính trị, “đọc lại” Phúc Âm và những hoạt động hướng về việc cải tổ sinh hoạt xã hội, đưa Tin Mừng thấm nhập cách tinh vi vào đời sống xã hội…

Thế là ngài đã đóng một vai trò thiết yếu trong việc khơi dậy lên một nền văn hóa đạo đức mới trong tất cả Châu Mỹ la tinh, mà về sau được gọi là “Thần học Giải phóng”. Dựa vào “Thần học giải phóng” và bất bạo động, ngài cho ra đời phong trào Hành động cho Công lý và Hòa bình dựa trên áp lực luân lý và giải phóng (pression morale et libératrice). Khi ngài bị tố cáo là “giám mục đỏ”, ngài đã khôn khéo trả lời: “khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta cho tôi là một vị thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo không có gì ăn, thì người ta cho tôi là một người thân cộng”.

Cho đến chết, Dom Helder Camara tự cho mình có nhiệm vụ chiến đấu chống nghèo đói tủi nhục và dai dẳng, đang hoành hành trong nước. Ngài phẫn uất khi thấy trước thềm Năm 2000, nhiều người còn ở trong cảnh sống càng ngày càng đồi tệ, đến nỗi họ không có được cái tối thiểu để sống một đời sống cho ra con người và được kính nể, trong khi thế giới ngày nay có thừa đủ phương thế để san bằng các hố bất công chênh lệch về kinh tế và xã hội. Điều này làm cho ta nhớ đến Abbé Pierre biệt danh “linh mục của người vô gia cư!” ở Pháp.

Đối với giáo dân trong địa phận mơi của ngài, Dom Helder Camara cho thấy ngài là người “giao du với những phần tử mà người ta cho là bất xứng và tội lỗi”. Ngài tố cáo những sự bất công, những hình thức thuộc địa và cho rằng người bị đàn áp, có quyền được tự-vệ.

GIẤC MỘNG BẤT THÀNH

Đó cũng là thời buổi mà một người bạn của ngài, cha Pereira Neto, bị ám sát (ta liên nghĩ đến cha bạn của ĐGM Oscar Roméro cũng bị sát hại ), mà ngài giảng về sự phân phối của-cải một cách công bằng hơn, mà ngài cất xây nhà cửa, thành lập trạm thông tin cho người nghèo… Cái “giấc mộng xã hội vĩ đại đó”, quan niệm một Giáo hội “bạn của người nghèo” đồng nhịp với các phong trào phản đối của tất cả những hình thức thống trị và đàn áp con người, đã làm cho Tòa thánh phản ứng không thuận lợi. Thánh Bộ Đức Tin đã 2 lần ra chỉ thị can thiệp: về một vài hình thức của Thần học giải phóng (1984); về sự tự do kitô giáo và giải phóng.(1986). Phải chăng Đức J-P II sợ rằng người ta sẽ lẫn lộn giữa ý nghĩa giải phóng người nghèo một cách siêu nhiên theo Phúc Âm với ý nghĩa giải phóng người nghèo theo cách trần gian, bằng việc đấu tranh giai cấp…, bởi vì họ dùng những hình thức phân-tích mác-xít gây lẫn lộn giữa một nhà tu hành (le religieux) với một nhà chính trị (le politique).

Trong thời gian đó, Dom Camara được cho về hưu và Tòa thánh bổ nhiệm Dom José Cardoso thay thế. Đó là một người hoàn toàn có quan niệm ngược hẳn Dom Camara, nên vị tân bổ nhiệm đã không duy trì những cơ sở, tổ chức của ngài, kể cả chủng viện ngài lập ở Olinda, vì bị tình nghi là nơi dạy thuyết mác-xít, cũng như Ủy ban Công lý và Hòa bình. Dẫu bị đặt trong tình trạng “im hơi lặng tiếng”, ngài tuyên bố là “sa mạc sinh hoa trái”, ngài tin tưởng vững chắc vào tương lai, nên vào năm 1990, ngài tung ra chiến dịch “Năm 2000, Năm hết nghèo khổ”. Xưa kia, ngài đặt kỳ vọng vào các cơ chế đạo đức, chính trị và học đường, thì nay ngài hiểu từ đây là “giấc mộng cho một thế giới dễ thở và nhân đạo” chỉ có thể thực hiện đựơc bởi ý muốn và lòng phục vụ của một nhóm nhỏ, sẵn sàng tin và đặt hy vọng vào cả lúc không còn hy vọng!

CHÌA KHÓA THẦN DIỆU

Dẫu vậy, uy tín tinh thần của ngài vẫn còn ảnh hưởng trên hàng triệu đồng bào và rất nhiều người trên thế giới, vì các cơ cấu ngài thành lập trước kia, những cộng đoàn nhỏ trong các khu xóm biết tìm phương thế để nắm lấy vận mệnh của mình: 130.000 cơ cấu như thế, gồm có hơn 2 triệu người, ngày nay vẫn còn ở Ba-Tây.

Dom Helder Camara đã qua đi năm 1999, nhưng ngài vẫn còn sống, qua các tổ chức không thuộc chính quyền do ngài khơi dậy nhờ sức mạnh tình thương của ngài, bất chấp những sợ sệt, quyền thế và những định chế.

“Mỗi sáng, khi thức dậy, tôi chọn tình yêu”, đó là lời nói đầy lạc quan tin tưởng của Dom Helder Camara, như trao cho nhân loại cái chìa khóa mở cửa một thế giới tốt đẹp hơn. VietCatholic