Để được cứu rỗi

1098

Để lãnh nhận ơn cứu chuộc, một người phải đóng góp ít nhất một chút thiện chí. Theo chiều hướng trên, một nhà văn Kitô hữu dựng một vở kịch diễn tả vụ hành quyết một tên trọng phạm tại một thị trấn nhỏ thời Trung cổ.

Theo phép nước, chỉ có mỗi một lối thoát chết cho tử tội là nộp đủ 1000 đồng tiền vàng để chuộc mạng. Nhà vua tỏ ra hào hiệp, tặng hết số vàng 700 đồng mang theo trong chuyến tuần du. Hoàng hậu theo gương, quyên 200 đồng. Đình thần cũng dốc tuí. Người ta gom được tất cả 997 đồng, còn thiếu ba đồng nữa thôi. Công lý không thể nhân nhượng, đành phải thi hành pháp lệnh. Toán hành quyết tròng thừng vào cổ tử tội thiếu may mắn và sửa soạn rút dây.

Bỗng một tiếng kêu lớn: “Khoan đã! Lục soát người nó đi, biết đâu đấy!”

Tên đao phủ lần giây lưng tội nhân, móc ra được 3 đồng tiền vàng hắn giấu kỹ từ trước!

Cứu độ con người, dù với tình thương và ước muốn quá nhân hậu như vậy cho con người, Thiên Chúa vẫn cần sự cộng tác của con người vào công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Cứu Thế Giêsu. Lý do là dù cho Chúa Giêsu đã đổ máu mình ra và chết trên thập giá, đã hòa giải con người với Chúa Cha, và mở đường cho con người được cứu độ để sống vinh cửu với Chúa trên Nước Trời mai sau, nhưng Chúa đã không tiêu diệt hết mọi mầm mống của sự tội và không trả lại cho con người tình trạng “ ngây thơ, công chính ban đầu, một tình trạng ơn phúc mà Adam và Eva đã được hưởng trước khi phạm tội bất phục tùng Thiên Chúa. Ở tình trạng ơn phúc này, hai ông bà không thể sa phạm tội vì yếu đuối của bản năng, mà phạm tội vì đã sử dụng “ ý muốn tự do” mà Thiên Chúa đã ban tặng và tôn trọng cho con người được tùy ý sử dụng từ trước cho đến nay, và còn mãi về sau cho đến ngày hết thời gian.

Lại nữa, về phần con người, dù được tái sinh qua phép Rửa và trở nên tạo vật mới, nhưng trong bản tính đã bị băng hoại vì Tội Nguyên Tổ, vẫn còn những vết thương, khiến con người vẫn hoàn toàn yếu đuối trước mọi cám dỗ của ma quí và thế gian, vì theo giáo lý của Giáo Hội dạy thì “ tuy nhiên, nơi người đã được rửa tội, một số những hậu quả của tội vẫn tồn tại, như những đau khổ , bệnh tật , sự chết, hoặc những sự yếu đuối gắn liền với sự sống như những yếu đuối về tính tình.v.v và nhất là sự hướng chiều về tội lỗi mà truyền thống gọi là tình dục, và theo ẩn dụ , được gọi là “lò sinh ra tội” được để lại cho ta phải chiến đấu với nó…” ( x SGLGHCG số 1264)

Như thế, ngoài trở ngại về bản tính yếu đuối nói trên, con người còn có tự do để chọn lựa, hoặc chiều theo những khuynh hướng xấu thúc đẩy mà phạm những tội nặng nhẹ xúc phạm đến Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành , hoặc chống lại bản năng hay khuynh hướng xấu đó để cộng tác với ơn cứu độ của Chúa hầu trở nên thánh thiện và được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn. Nói rõ hơn, ơn cứu độ của Chúa Kitô không biến đổi con người tới mức không thể phạm tội được nữa, mà chỉ hứa hẹn cho ta được cứu rỗi nếu ta có thiện chí cộng tác với ơn Chúa để chống lại mọi cám dỗ đến từ ma quỷ và thế gian là những địch thù luôn khai thác triệt để bản tính yếu đưối của con người để xúi dục ta phạm tội mất lòng Chúa. Như vậy, nếu con người sử dụng tự do của mình mà làm những sự dữ như oán thù, giết người, giết thai nhi, gian tham, bất công bóc lột người khác, trộm cắp, cờ bạc, dâm ô, ngoại tình, thay vợ đổi chồng …thì chắc chắn đã quay lưng lại với Chúa và khước từ cộng tác với ơn cứu độ của Người. Như thế, dù có tuyên xưng ngoài miệng cả trăm ngàn lần là tin có Thiên Chúa, tin Chúa Kitô là Đấng cứu chuộc, thì cũng vô ích mà thôi.

Đó là lý do tại sao Chúa Giê su đã nói với các môn đệ Người xưa kia như sau: “ Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa !, lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, mà chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời , mới được vào mà thôi.” ( Mt 7: 21)