Thập giá ư

1044

Trước mắt các dân biểu quốc hội Pháp (Chambre der Pairs) Bá tước de Montalembert đã mạnh mã nói rằng: Người ta tuôn ra các thứ xấu xa để bêu xấu đạo Công giáo, rồi từ đó rút ra được cái gì?…Tôi xin mạnh mẽ hiên ngang mà nói: Tôi được lòng tin mạnh mẽ về đạo Chúa như thế này là nhờ từ ngày (1830) người ta hạ các ảnh chuộc tội trong các nhà thờ thành Paris, người ta kéo lôi dưới đất những Thập giá ấy rồi đem ném xuống sông Seine, giữa tiếng hoan hô điên cuồng của dân chúng. Thập giá bị sỉ nhục như vậy tôi đã lấy đem về để trong lòng tôi, tôi thề sẽ làm tôi và bênh vực Thập giá.

Montalambert, Lacordaire, Linh mục Lamenais đã giúp rất nhiều cho Giáo Hội Pháp thời kỳ đệ III Cộng Hòa.

Thánh Phaolô nói: Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do-thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo, nhưng đối với những người được kêu gọi, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, thì Ngài là Chúa Kitô, quyền năng của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì sự điên dại của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và điều yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự mạnh mẽ của loài người. 1 Cr 1, 17-25.

Dĩ nhiên, khi nghe các tông đồ và các tín hữu tuyên dương một tội phạm bị xử tử trên Thập giá, nhiều người đã thấy chói tai và không khỏi đặt câu hỏi: phải chăng các Kitô hữu là bọn người cuồng tín? Thế nhưng, thay vì tránh né nói tới Thập giá để khỏi gây hiểu lầm, thánh Phaolô đã dám đi thẳng vào vấn đề trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô. Thánh Phaolô tuyên bố rằng lời giảng về Thập giá mang tính chất nghịch lý, bởi vì nó tuyên dương quyền năng thượng trí của Thiên Chúa ở nơi mà người đời coi là điên rồ: “Dân do thái thì đòi phép lạ, dân hy lạp thì tìm lý lẽ cao siêu; còn chúng tôi lại rao giảng một đức Kitô trên Thập giá, một điều vấp phạm cho dân do thái và điều dại dột đối với dân hy lạp. Thế nhưng, đối với ai được gọi, dù là do thái hay hy lạp, thì đó là một vị Cứu tinh với quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa; bởi lẽ sự dại dột của Chúa thì khôn ngoan hơn con người gấp bội, và sự yếu ớt của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn con người trăm lần” (1Cr 1,18-25).

Thánh Phaolo còn thêm: “Khi ở với anh em, tôi không biết chuyện gì khác ngoài đức Giêsu Kitô, đức Giêsu Kitô trên  Thập giá” (1 Cr 2,2). Chúng ta đừng nên coi lời lẽ của Phaolô như là một thứ thuật ngữ hùng biện! Việc đức Giêsu chịu chết trên Thập giá thực sự là chuyện ô nhục đồi tệ thực trước mặt người Do thái và người Hy lạp! Đối với Do thái, tử thi đã là vật ô uế rồi, lại còn phơi bày giữa trời nữa thì quả là đồ bị Chúa rủa bỏ (x. Gal 3,13). Thánh Phaolo chấp nhận cái phản ứng hợp lý đó, và dùng nó làm lập luận nghịch lý để trình bày kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa: chính qua Thập giá của đức Kitô mà chúng ta nhận thức được khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa: sự hèn yếu của Ngài thì mạnh mẽ hơn quyền lực của con người trăm ngàn lần (x. 2 Cr 13,4).

Tiếp tục đào sâu ý nghĩa cứu độ từ Thập giá, thánh Phaolô kể ra những hồng ân trọng đại mà Thiên Chúa ban cho nhân loại từ cái hình khổ của đức Kitô, đó là: sự toàn thắng trên các lực lượng của sự dữ và ơn tha thứ tội lỗi. Cái chết của đức Kitô được coi như một hy lễ; ngoài yếu tố Thập giá, tác giả của thư gửi Do thái phân tích thêm yếu tố “máu”, biểu hiệu của việc hiến mạng sống vì tình yêu (Dt 9,11-12). Thư gửi Ephêsô tuyên dương Thập giá như dụng cụ mang lại ơn hòa giải cho nhân loại: từ một đối tượng đáng khinh bỉ trước mặt dân Do thái lẫn dân Hy lạp, Thập giá đã được đức Kitô biến thành nơi hòa giải, phá đổ bức tường ngăn cách giữa dân do thái với dân ngoại cũng như sự thù nghịch giữa nhân loại với Thiên Chúa (Ep 2,15-16). Như vậy từ chỗ là biểu tượng của oán thù, nhờ đức Kitô mà Thập giá trở nên nơi thi thố tình yêu và sự hòa giải giữa Thiên Chúa với loài người, và hòa giải giữa loài người với nhau. Thập giá không phải chỉ là một biến cố kết liễu cuộc đời đức Giêsu, nhưng nó mang một giá trị vĩnh cửu: tác giả của sách Khải huyền và của thư thứ nhất Phêrô trình bày thần học của chiên sát tế và vinh hiển trên ngai.