Một con cá

930

Tại biển khơi có một con cá khổng lồ, không có ai rõ được nó lớn tới mức độ nào; chỉ thấy khắp mặt biển ẩn hiện nhưng vật mầu hồng uốn éo chẳng khác ngọn lửa, đó chính là vây của nó.

Con cá khổng lồ nương vào biển rộng, vùng vẫy làm cho nước dâng thành sóng lớn cao ngút trời. Gập loại cá nào, nó đều nuốt sạch và xưng hùng xưng bá trong vùng biển đó. Một hôm, lúc thủy triều dâng cao, con cá khổng lồ đó lọt vào một con sông lớn, khi nước rút nó bị mắc cạn, phơi mình trên cát trông tựa hòn núi đất. Không có nước, con cá nằm im hết cựa quậy.

Mọi người trông thấy nó, hùa nhau đến lóc thịt, chất đầy vài trăm thuyền lớn. Thân cá trở thành bữa tiệc ngon lành cho bầy quạ den và ó biển kéo đến ăn ròng rã hai ngày chưa hết.

Người dựa vào uy quyền mà hiếp đáp kẻ yến một ngày nào đó sa cơ sẽ kết cuộc thảm khốc.

Ðức Giêsu nói với các Tông đồ, sau khi đã rửa chân cho các ông: “Thày đã làm gương cho anh em”. Chúa rửa chân là muốn nêu gương cho các ông, để các ông noi theo đó mà làm cho người khác. 

Khi nói: “Thày đã làm gương cho anh em”, phải chăng Ðức Giêsu muốn dạy ta cũng rửa chân cho các anh chị em mình, trước khi ngồi vào bàn ăn?  Hiểu như vậy thì nông cạn quá. Ai chịu khó đọc Tin Mừng, nghiền ngẫm về Chúa và về lời Chúa, hẳn phải hiểu Chúa muốn nói gì. Muốn nói rằng: cũng như Ngài “đã thí mạng vì chúng ta, như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3,16).

Câu truyện rửa chân có thể làm chúng ta liên tưởng tới đoạn thư Philipphê nổi tiếng (Pl 2,5tt). Ðoạn này bắt đầu bằng lời mời gọi: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Ðức Kitô Giêsu”. Tiếp đến, Phaolô mô tả Ðức Giêsu, phận là phận một Thiên Chúa, nhưng đã huỷ mình ra không, mang thân phận tôi đòi. Thì Gioan cũng cho ta thấy Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa, Ðấng được Chúa Cha trao ban mọi sự, Ðấng từ Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Ðấng ấy cởi áo mình ra, thắt dây lưng, mặc áo tôi tớ, rửa chân cho các môn đệ. Có thể nói: điều Phaolô mô tả cách chung chung, thì Gioan vẽ lại bằng những hình ảnh và cử chỉ cụ thể. Quả thực, cả Phaolô lẫn Gioan đã nói lên, tuy bằng cách thức khác nhau, một đề tài xuyên suốt các sách Tân ước, đó là: Ðức Giêsu là tôi tớ của Thiên Chúa và của con người.

Chúng ta còn bắt gặp trong Phúc Âm Luca một câu được Ðức Giêsu nói sau lúc rửa chân: “Giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thày đây, Thày sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22,27) Theo Luca, Chúa nói câu này lúc các môn đệ đang tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm. Chúa rửa chân cho các ông, để dạy các ông một bài học bằng chính hành động của mình. Các môn đệ thì muốn làm lớn. Còn Ngài, Ngài lại muốn làm một người rốt hết.

Rửa chân là một cách thâu tóm tất cả ý nghĩa cuộc đời của Chúa, nhằm giúp cho các môn đệ ghi khắc tận tâm khảm ý nghĩa ấy. Lúc bấy giờ, các ông nào có hiểu việc Ngài làm. Nhưng không sao. Sau này các ông sẽ hiểu. Cử chỉ rửa chân được thực hiện ở phần cuối sách Phúc Âm giúp chúng ta hiểu rằng tất cả cuộc đời của Chúa, từ đầu đến cuối, chính là một sự rửa chân, một cuộc đời phục vụ con người. Ðó là một cuộc đời được hiến ban cho người khác, sống vì hạnh phúc của người khác. Một cuộc đời trở thành “tấm bánh bẻ ra cho thế giới”. Khi dạy ta làm như mình đã làm, Ðức Giêsu đã coi sự phục vụ như một luật nền tảng, hoặc đúng hơn, một lối sống, một gương mẫu cho mọi mối tương giao trong Giáo Hội và trong xã hội.

Chúa đã nói với Phêrô là sau này ông sẽ hiểu việc Ngài làm. Quả thực, sau này Phêrô đã hiểu, các môn đệ đã hiểu, cả Giáo Hội đã hiểu, và đã không ngừng nói đến phục vụ, cũng như bằng mọi cách muốn cho các tín hữu sống phục vụ. Khi phác hoạ chân dung một người goá bụa lý tưởng, để có thể vào hàng các bà goá, Phaolô bảo người đó phải biết “rửa chân cho các thánh” (1Tm 5,10) (“Thánh” ở đây không có nghĩa như ta quen hiểu là vị này vị kia được Giáo Hội tôn phong và kính nhớ, nhưng chỉ tất cả mọi tín hữu, những người được thông phần sự thánh thiện của Thiên Chúa, được Thiên Chúa tác thánh, làm nên một dân thánh, một đền thánh).

Tất cả giáo huấn của Phaolô về đặc sủng đều quy về phục vụ, vì nếu ân sủng là dành cho cá nhân, thì đặc sủng là dành cho cộng đồng. Phục vụ được coi là linh hồn và mục tiêu của đặc sủng. Theo Phaolô, mọi cách biểu lộ đặc biệt của Thần Khí đều là “vì ích chung” (1Cr 12,7). Những đặc sủng được ban để các tín hữu “được chuẩn bị làm công việc phục vụ” (Ep 4,12). Khi khuyên các tín hữu phải có một thái độ cần thiết trong thời cánh chung, Phêrô bảo: “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác” (1Pr 4,10).

Ðặc sủng và phục vụ là hai yếu tố có mối liên hệ sinh tử với nhau. Ðặc sủng mà không đưa tới phục vụ cũng giống như nén vàng chôn dưới đất (Mt 25,25), chỉ tổ đem lại án phạt (Mt 25,30), hoặc giống như một lưỡi cầy han rỉ, vì lâu ngày không được người nông dân sử dụng.

Chúng ta cần đào sâu ý nghĩa của từ “phục vụ”, để nó trở thành hiện thực trong đời ta, chứ không chỉ là lời nói trên cửa miệng.

Tự nó, phục vụ không phải là một nhân đức. Trong bản liệt kê của Phaolô về những nhân đức hay hoa quả của Thần Khí, chúng ta không thấy nó. Thậm chí Phaolô còn nói đến việc phục vụ cho tội lỗi (Rm 6,16), cho các ngẫu tượng (1Cr 6,9). Chắc chắn đây không phải là những việc phục vụ tốt.

Tự nó, phục vụ không tốt cũng không xấu. Nó nói lên một điều kiện sống là giúp nhau trong các mối tương quan giữa người này người khác. Nó còn có thể là một hành vi tiêu cực nếu phục vụ vì sợ hãi, vì ép buộc, hoặc vì những động lực vụ lợi.

Ngày nay, người người đều nói đến phục vụ. Ai cũng cho rằng mình đang phục vụ. Một người bán hàng, nói thì nói thách, chặt thì chặt đẹp, cũng cho là mình đang phục vụ khách hàng. Thậm chí còn gọi khách hàng là Thượng đế nữa! Có thể nói: bất cứ ai có một chức năng xã hội nào đó đều đang làm công việc phục vụ. Ðương nhiên sự phục vụ theo Tin Mừng là chuyện hoàn toàn khác, cho dù tự nó, nó không nhất thiết khai trừ hay hạ giá sự phục vụ mà người đời quen hiểu. Khác nhau là ở những lý do và thái độ bên trong đưa đến phục vụ.

Chúng ta hãy đọc lại trình thuật rửa chân, để thấy Chúa làm công việc này với tinh thần nào, và điều gì đã thúc đẩy Ngài hành động. Gioan viết: “Ðức Giêsu. vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Phục vụ không phải là một nhân đức, nhưng bắt nguồn từ các nhân đức, nhất là đức mến. Nó là cách diễn tả cao đẹp nhất của điều răn mới. Cũng Gioan còn nói cho ta điều ấy trong thư của ngài. Tính cách riêng của phục vụ là yêu không phải nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng là yêu thương cách chân thành và bằng việc làm (1Ga 3,18).

Còn theo Phaolô, phục vụ là biểu lộ tình yêu không ích kỷ (1Cr 13,5), không tìm tư lợi, nhưng tìm lợi ích của người khác, không tìm kiếm mình, nhưng là hiến mình.

Tựu trung, đó là một cách thông phần và bắt chước hành động của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Sự Thiện, tất cả Sự Thiện, Sự Thiện tuyệt đối, chỉ có thể yêu và làm điều thiện một cách nhưng không, không vì tư lợi nào.

Bởi vậy, khác với sự phục vụ của người đời, sự phục vụ theo Tin Mừng không phải là công việc riêng của người dưới, của người không có gì, nhưng đúng hơn, là công việc của người trên, người có của, người có địa vị, quyền bính. Về sự phục vụ, thì ai nhận được nhiều hơn, sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn (Lc 12,48). Do đó, khi nói về Giáo Hội, Chúa dạy rằng kẻ làm đầu, làm thủ lãnh, phải là người phục vụ (Lc 22,26). Người đầu hết phải là tôi tớ mọi người (Mc 10,44). Cho nên, không phải vô lý mà một tác giả (Spicq) đã viết: “Việc rửa chân là dấu chỉ quyền bính kitô giáo”.

Ngoài đặc điểm “nhưng không”, sự phục vụ còn diễn tả một đặc điểm khác của tình yêu. Ðó là khiêm nhường. Khi dạy các môn đệ phải rửa chân cho nhau, Ðức Giêsu muốn nói rằng họ phải phục vụ nhau trong tinh thần bác ái khiêm nhường. Bác ái và khiêm nhường cộng lại làm nên sự phục vụ theo Tin Mừng.

Nhưng phải hiểu khiêm nhường cho đúng. Nhiều người coi sự khiêm nhường như một cách nói về mình, tức là như một nhân đức của cá nhân mình, trong đó những người khác chỉ có liên hệ gián tiếp như là yếu tố để giúp xem mình có khiêm nhường không và, nếu có, thì khiêm nhường ra sao. Sách Gương Chúa Giêsu viết: “Khiêm nhường là mình là sao thì đánh giá mình là vậy, xem xét mình trong sự hèn mọn của mình, tủi hổ vì các khiếm khuyết của mình, xác tín mình nhỏ nhất so với mọi người” (II,2; III,8).

Nếu hiểu khiêm nhường như thế, thì nó sẽ là nhân đức duy nhất không có nơi Thiên Chúa. Thế nhưng, có nhân đức nào mà lại không có gương mẫu tối hậu nơi Thiên Chúa? Thiên Chúa đâu có hèn mọn, cũng chẳng bao giờ nghĩ mình hèn mọn. Ngài không nói về mình với giọng điệu đó, không nghĩ về mình theo cung cách đó.

Có thể có người sẽ bảo: khiêm nhường là nhân đức riêng của tạo vật tội lỗi thôi, không mắc mớ gì với Thiên Chúa hết. Có thật không? Cứ mở sách Phúc Âm mà coi. Ta thấy Ðức Giêsu quả quyết: “Anh em hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Ðức Giêsu luôn cho mình vô tội, không mắc lỗi nào. Ngài luôn ý thức mình là Chúa. Ngài đã nói công khai: ở đây còn có người trọng hơn Salomon, Ðavít, Abraham, Môsê. Dầu vậy, Ngài vẫn dạy các môn đệ học với Ngài vì Ngài khiêm nhường. Như vậy, chắc hẳn sự khiêm nhường có một giá trị hoàn toàn khác với điều người ta thường gán cho nó.

Thực ra, trong ý nghĩa cao cả nhất của nó, khiêm nhường không ở chỗ là hèn mọn, vì người ta có thể hèn mọn một cách khách quan, và như vậy không phải là nhân đức gì cả. Cũng không ở chỗ cảm thấy mình hèn mọn, vì có thể thực sự là thế. Sự khiêm nhường đích thực là ở chỗ làm cho mình thành hèn mọn, nhỏ bé. Theo nghĩa này, nó có nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, chỉ nơi Thiên Chúa, nó mới đạt tới mức độ cao nhất. Thiên Chúa không phải là Ðấng hèn mọn, không nghĩ mình hèn mọn, nhưng làm cho mình thành hèn mọn khi hạ cố xuống thế. Và Ngài làm như vậy không phải vì lợi lộc nào cho mình, nhưng chỉ là để phục vụ, để làm sự lành, vì yêu thương con người.

Khiêm nhường là một nhân đức tiên vàn là của Thiên Chúa, vì chỉ có Ngài không thể đưa mình lên. Ðâu còn gì ở trên Ngài nữa mà lên! Ở địa vị Ngài, khi làm một hành vi nào hướng ngoại (ad extra), thì chỉ có nước đi xuống.

Thánh Phanxicô Assisi đã đưa ra một trong những định nghĩa đẹp nhất về Thiên Chúa: “Thiên Chúa là sự khiêm nhường”. Tất cả lịch sử cứu độ là lịch sử sự khiêm nhường của Thiên Chúa, thậm chí lịch sử những hạ mình mà Thiên Chúa phải chịu. Trong một bản văn nói về Thánh Thể, cũng thánh Phanxicô còn viết: “Anh em hãy xem: mỗi ngày Chúa hạ mình như khi Ngài từ ngai vàng xuống trong lòng Ðức Trinh Nữ. Hàng ngày, Ngài đến với ta dưới những hình thái khiêm tốn. Hàng ngày, Ngài từ cung lòng Chúa Cha xuống trên bàn thờ, trong đôi bàn tay của linh mục”.

Thế nên chúng ta hiểu vì sao Ðức Giêsu có thể nói: Hãy học với tôi, vì tôi có lòng khiêm nhường. Ngài đã làm gì để chứng tỏ là khiêm nhường? Ðã hạ mình. Kể từ lúc nhập thể thì chỉ có đi xuống, xuống tới giới hạn cuối cùng như ta thấy, là quỳ gối rửa chân cho các môn đệ. Rồng đến nhà tôm đã là chuyện khó tưởng tượng, huống hồ ở đây, Ðấng Tạo Hoá quỳ dưới chân những tạo vật! Cho nên, thánh Bênađô đã tự nhủ với mình: “Hỡi tro bụi, ngươi hãy xấu hổ vì sự kiêu ngạo của ngươi. Thiên Chúa hạ mình xuống, còn ngươi, ngươi lại đưa mình lên”.

Hiểu như vậy thì khiêm nhường là một trong những con đường đẹp nhất đưa ta tới chỗ giống với Thiên Chúa, sao chép hành vi của chính Thiên Chúa.