Có còn tin

782

Năm 1946, sau đệ II thế chiến, nước Đức gặp nạn khan hiếm thực phẩm. Mùa xuân 46, một nhà văn đi qua một nông trại trong rừng Forêt noir. Trông thấy đàn gà tung tăng, anh ta thèm ăn trứng. Đánh bạo vào nhà, anh thấy một bà già ngồi đan áo, một thiếu phụ trẻ đẹp đang ủi quần áo.

– Làm ơn bán cho vài trái trứng.

– Không có ông ơi, gà đang thay lông chưa đẻ.

– Gà lúc này toi nhiều quá, cô dâu nói chêm vô.

– Xin chào bà và cô.

Vừa bước ra, chợt cả hai kêu anh lại :

– Anh rán chờ một chút, ăn bánh và uống nước đã.

Một lát sau, bà cụ gọi anh lại, len lén trao cho quả trứng và khẽ nói :

– Anh giấu đi, kẻo con dâu tôi nó thấy. Con gái thời nay keo lắm chỉ lo cho mình.

Anh chưa kịp trả tiền thì bà già đã xuống bếp. Anh lúng túng chưa kịp giấu thì cô dâu xuất hiện đặt vào tay anh một trái trứng nữa :

-Ông giấu đi, kẻo mẹ tôi biết, bà già hà tiện lắm ông ơi.

Sau đó cả hai mẹ con tiếp trà bánh anh ta một cách niềm nở.

Từ các Tin Mừng Matthêu, Marcô và Luca, chúng ta biết rằng mình càng nhận biết về lòng nhân hậu và tình yêu của Thiên Chúa thì mình càng tăng trưởng trong đức tin.

Câu hỏi hiển nhiên trong Năm Đức Tin này là: Từ “đức tin” được dùng như thế nào trong Tân Ước? Danh từ “đức tin”, tiếng Hylạp là pistis, được sử dụng 24 lần trong 27 sách của Tân Ước. Trong bài ngắn này, chúng ta chỉ xét hạn chế trong các Tin Mừng Marcô, Matthêu, Luca và khá ngạc nhiên là từ này không bao giờ được dùng trong Tin Mừng Thánh Gioan. Với hai điều khác thường về cách sử dụng động từ “tin” trong các Tin Mừng, riêng trong Tin Mừng Thánh Gioan đã sử dụng đến 98 lần động từ “tin” (pisteuo).

Chúng ta bắt đầu với điều khác thường đầu tiên: “Tin” là một trong những từ đầu tiên mà Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng Thánh Marcô. Ông viết: “Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: ‘Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’” (Mc 1,14-15). Ai đáp trả lại lời Chúa Giêsu mời gọi đức tin này? Những người hiểu biết đều gọi Tin Mừng Marcô là “Tin Mừng của sự mâu thuẫn”. Điều mâu thuẫn ở đây là không phải chính các môn đệ đã được Chúa Giêsu kêu gọi bên bờ hồ (1,16-20) hay trên núi (3,13-19) trở thành gương mẫu đức tin, nhưng chính những người chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong Tin Mừng Marcô và rồi không nghe nói gì về họ nữa. Sự đáp trả của họ có thể nói cho chúng ta nhiều điều trong Năm Đức Tin này.

Marcô dùng từ “đức tin” (pistis) 4 lần. Lần thứ nhất dành cho 4 người khiêng người bất toại đã dỡ mái nhà để thả bệnh nhân xuống với Chúa Giêsu. Vì “đức tin” của họ, Chúa Giêsu đã tha tội cho người bệnh (2,5). Cách sử dụng đầu tiên của từ này nhắc chúng ta rằng đức tin được biểu lộ qua hành động. Thánh Phaolô nhấn mạnh điểm này khi viết cho tín hữu Galat: “Đức tin hành động nhờ đức ái” (Gl 5,6). Lưu ý rằng mỗi khi nhìn thấy đức tin của ai đó thì Chúa Giêsu luôn công bố rằng tội lỗi họ đã được tha.

Lần thứ hai, Chúa Giêsu dùng từ này để nói với các môn đệ. Trên chiếc thuyền ra giữa dòng hồ Galilê, họ gặp bão và hoảng sợ vì nghĩ mình sắp chìm. Chúa Giêsu sai khiến bão tố im lặng và nói với các môn đệ: “Các con vẫn chưa có đức tin sao?” (4,40). Mặc dù trước đấy họ đã chứng kiến quyền năng của Chúa Giêsu khi chữa lành bệnh tật và khi tranh luận, họ nghe giáo huấn đầy thẩm quyền của Ngài, nhưng họ lại thất vọng khi gặp khủng hoảng. Cũng như ở những nơi khác trong Tin Mừng Marcô, thái độ của các môn đệ ở đây cho chúng ta một lời cảnh báo hơn là một mẫu gương. Chỉ có niềm tin vững chắc mới giúp người tín hữu đối phó với những cơn bão trong cuộc đời.

Lần thứ ba từ “đức tin” xuất hiện trong Tin Mừng Marcô là khi Chúa Giêsu nói với người phụ nữ vừa được chữa lành. Căn bệnh của bà kéo dài đã 12 năm. Bà được chữa lành qua hai giai đoạn. Đầu tiên bà tìm cách chữa bệnh bằng cách chạm vào Chúa Giêsu, thế nhưng điều này chỉ đưa bà đến chỗ “sợ hãi và run rẩy”. Chỉ sau khi phủ phục trước Chúa Giêsu và nói với Ngài “tất cả sự thật” thì lúc ấy bà mới thấy mình được khỏi bệnh, và Chúa Giêsu nói với bà: “Này con, đức tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh” (5,34). Từ câu chuyện của bà, chúng ta biết rằng đức tin tăng trưởng như thế nào, nó bao hàm mối liên hệ cá nhân với Chúa và tin cậy vào Thiên Chúa.

Lần thứ tư từ “đức tin” xuất hiện trong Tin Mừng Marcô là trình thuật chữa lành anh Bartimê. Anh là người mù ăn xin nghe thấy Chúa Giêsu đi ngang qua. Ba lần anh van xin Chúa Giêsu thương xót và chữa cho anh được sáng mắt. Lời cầu xin của anh được chấp nhận, Chúa Giêsu nói với anh cũng bằng những lời nói với chị phụ nữ trước đó: “Hãy đi đi, đức tin của anh đã chữa anh” (10,52). Và thật mâu thuẫn, Bartimê không hiểu được lời căn dặn của Chúa Giêsu là “hãy đi đi”, thay vào đó anh lại “đi theo” Ngài cho đến Giêrusalem, thành phố mà Chúa Giêsu phải chịu chết. Đức tin của anh được biểu lộ qua lời cầu xin liên tục và kiên trì, mặc những lời can ngăn của đám người chung quanh. Anh làm gương cho chúng ta phải kiên trì khi cầu nguyện với Chúa Giêsu. Đức tin cổ vũ thói quen cầu nguyện kiên trì và thường xuyên. Truyền thống Kitô giáo Hylạp rất quý trọng lời cầu xin của Bartimê – “Lạy Chúa Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót tôi” (10,47); các tu sĩ thường lặp lại lời nguyện này khi mỏi mệt lê bước làm việc trên cánh đồng. 

Cuối cùng, Chúa Giêsu nói về “đức tin” với các môn đệ khi thấy cây vả mà Ngài nguyền rủa ngày hôm trước đã chết khô. Ngài bảo họ: “Hãy tin vào Thiên Chúa” (11,22), và dạy họ một bài học về cầu nguyện. Đây là lời dạy dài nhất về cầu nguyện trong Tin Mừng này vì không có “Lời cầu của Chúa” (Kinh Lạy Cha) trong Tin Mừng Marcô. Lời dạy chỉ vỏn vẹn trong 3 câu nói mà 2 câu là những đại ngôn có tính ngôn sứ hơn là thực tại thường ngày. Thực sự chúng ta không trông mong gì lời cầu của mình chuyển núi dời non hoặc mỗi lời cầu đều được chấp nhận, nhưng lời cầu nguyện phải xuất phát từ trái tim, phải tin tưởng và phó thác, và phải bao gồm cả sự tha thứ lẫn nhau. Như trong câu chuyện anh Bartimê, chúng ta nhận thấy có mối liên hệ giữa cầu nguyện và đức tin.

Nhưng có lẽ câu nói mâu thuẫn đáng ghi nhớ nhất về đức tin trong Tin Mừng Marcô là câu nói của một nhân vật phụ. Từ ngữ được dùng ở đây không phải là “đức tin” (pistis) mà điều ngược lại: “sự không tin” (apistia). Người cha của thằng bé bị động kinh, người mà các môn đệ của Chúa Giêsu không thể chữa trị được, đã kêu xin Chúa Giêsu: “Tôi tin. Xin hãy giúp cho sự không tin của tôi” (9,24). Đây là một trong những lời cầu được khuyến khích trong Năm Đức Tin này.