Cái lồng đèn

1136
Indian labourers are silhouetted against a sunset as they return home after day-long work at a construction site in the northern Indian city of Chandigarh, December 18, 2005. Acceleration in economic growth has made India amongst the 10 fastest growing developing countries. Yet, about 30 percent of India's more than one billion people live below the official poverty line of 2,100-2,400 calories a day. REUTERS/Ajay Verma

Một người mù đến thăm người bạn, được bạn tặng một cái lồng đèn để cầm đi lúc trở về nhà.

Người mù nói:

– Tôi đâu có cần dùng đèn. Với tôi, ngày như đêm, sáng như tối chả có gì phân biệt.

Người bạn trả lời:

– Đúng ! Nhưng nếu anh không xách lồng đèn, kẻ khác có thể đụng vào anh. Hãy cầm nó mà đi đường.

Anh mù bằng lòng. Nhưng đi không được bao xa bị người đi đường đụng phải. Anh mù la lên:

– Không thấy cái đèn tôi cầm trong tay hay sao ?

Người đi đường mỉm cuời nói:

– Nó đã tắt đời nào rồi ! Anh không hay sao ? Tội nghiệp chưa !

Cái khám phá đầu tiên và cuối cùng của Đức Phật là mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Chỉ vì vô minh mà ánh sáng của ngọn đèn lồng (Tâm đăng) bị che lấp.

Việc làm đầu tiên của kẻ tìm đạo là trở về với cái ánh sáng của chân thân. Ngoài ra, không có gì quan trọng hơn.

Không nên lấy ánh sáng của người làm của mình, mang đầu óc kẻ khác mà suy, mang quả tim người khác mà cảm.

Anh mù trên đây là tất cả chúng sinh bị vô minh mà ngọn đèn lồng như bị tắt đi. Chiếc đèn mà anh ta được kẻ khác trao cho, là ám chỉ sự giác ngộ của kẻ khác được trao cho anh. Cho nên, dù anh có là một nhà bác học đi nữa mà tự anh, tâm hồn tối tăm, tự mình không khám phá ra được gì, anh vẫn là một ngọn đèn đang cầm trong tay còn cháy hay đã tắt đi, anh làm sao biết được. Câu thốt ra của anh: “Không thấy cái đèn tôi cầm trong tay hay sao ?” quả là đáng thương và hài hước.

Hàng trí giả chúng ta thường lẩm cẩm nghĩ như chàng mù trên đây. Những học giả nặng về tử chương khoa cử, chỉ biết học thuộc lòng kinh sách mà tự xem là trí thức, há không đáng thương hại làm sao ? Cho nên người đi đường đã phải than: “tội nghiệp chưa”.

Một nhà văn Tây phương có nói: “các viện Đại học ngày nay chỉ là những kệ sách với những mục lục sách mà thôi”.

Lão tử nói: “Vi học nhật ích, vi đạo nhật ổn”. Theo cái học trục vật hứơng ngoại thì càng ngày càng thêm (cái ánh sáng của kẻ khác). Theo cái học  của đạo (hứơng nội, phục kỳ bản, phản kỳ chân) thì càng ngày càng bớt (cái ánh sáng của kẻ khác). Vậy mà phần đông chúng ta rất hãnh diện với cái học được thu thập càng ngày càng nhiều nơi kẻ khác (Nghĩa là kinh sách cổ kim). Những kẻ khoa bảng xuất thân mà có làm được việc gì đáng kể trong đời mình là nhờ họ đã biết “quên” những cái họ đã học hỏi nơi kẻ khác.

Suy gẫm

1. Thấy lỗi người khác mà không thấy lỗi của mình; phê phán người khác mà không tự phê phán mình; đó là thứ mù quáng và giả hình mà Chúa Giêsu nhiều lần cảnh cáo bởi vì ai cũng dễ mắc phải. Những người ưu tú nhất của thời Chúa Giêsu là Biệt phái và luật sĩ đã mắc phải một cách nặng nề đến vô phương cứu chữa. Phần tôi, chắc chắn tôi đang bị hai thứ bệnh mù quáng và giả hình này. Chỉ cần xét mình một chút là tôi có thể nhận ra ngay.

2. Tôi xét đoán anh chị em tôi hầu như suốt cả ngày, còn thời gian để tự xét đoán mình chỉ chừng vài phút, mà nhiều khi tôi cũng để nó trôi qua một cách trống rỗng.

3. Tôi dễ đưa ra những lời xét đoán, nhưng tôi có nghĩ tới hậu quả của việc tôi làm không? Một quan tòa kết án sai thì khiến nạn nhân khổ oan trong một thời gian lâu dài. Khi xét đoán, tôi cũng là quan tòa, sao tôi lại không nghĩ tới nỗi oan của người khác nếu tôi sai?

4. “Sao anh thấy cái rác trong mắt của người anh em mà cái xà trong mắt của chính mình thì không để ý tới?” (Lc 6,41)

Khi nói xấu anh em mình, tôi thật dễ lỗi phạm biết bao! Tôi quên rằng chính tôi lắm khi còn tệ hơn thế nữa. Chính bản thân tôi vẫn còn đầy những thói hư tật xấu. Khi lên án, chỉ trích anh em, tôi làm như thể tôi vô tội. Thực ra đó chỉ là cái đà lớn che đi con người của tôi mà thôi.

5. Chúa Giêsu không chỉ khuyên chúng ta không nên xét đoán người khác. Ngài còn mời gọi chúng ta tự đặt mình vào mối tương quan với Thiên Chúa: Chỉ có Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lòng con người mới có thể xét xử con người. Nhìn nhận quyền xét xử của Thiên Chúa, con người cũng sẽ nhận ra thân phận tội lỗi yếu hèn của mình. “Hãy lấy cái dằm ra khỏi mắt ngươi trước đã,” nghĩa là hãy nhận ra thân phận bất toàn của mình trước.

Có nhận ra mối tương quan đích thực với Thiên Chúa, con người mới thấy được tương quan của mình với tha nhân. Thật thế, chối bỏ và cắt đứt mối tương quan với Thiên Chúa, con người cũng đi đến chỗ chối bỏ tha nhân.