Niềm tin và hy vọng

2504

Trong một căn phòng, không gian tĩnh lặng tới mức người ta có thể nghe thấy tiếng thì thầm của những ngọn nến. Cây nến thứ nhất than vãn: “Ta là biểu tượng của Thái Bình, Hoà Thuận. Thế nhưng đời nay những cái đó thật chông vênh. Thế giới hiếm khi im tiếng gươm súng, người với người – thậm chí vợ chồng anh em trong một nhà cũng chẳng mấy khi không cãi cọ”. Thế rồi ngọn nến leo lét, ngọn lửa mờ dần cho tới khi ánh sáng lụi tắt hoàn toàn.

Ngọn nến thứ hai vừa lắc vừa kể lể: ”Ta là Niềm Tin. Thế nhưng trong thế giới này hình như ta trở nên thừa thãi, một món xa xỉ. Biết bao kẻ sống theo thời không cần tới niềm tin”. Nói rồi ngọn nến từ từ, tắt tỏa ra một làn khói trắng luyến tiếc.

”Ta là Tình Yêu – ngọn nến thứ ba nói – Nhưng ta không còn đủ sức để tỏa sáng nữa. Người ta gạt ta ra một bên và không thèm hiểu giá trị của ta. Cứ nhìn thế giới mà xem, không thiếu kẻ quên luôn cả tình yêu đối với những người ruột thịt của mình”. Dứt lời phẫn nộ, ngọn nến vụt tắt. Căn phòng trở nên tối tăm.

Chỉ còn một ngọn nến nằm ở góc xa vẫn tiếp tục phát ra ánh sáng, như ngôi sao đơn độc giữa bầu trời đêm âm u. Bất chợt một cô bé bước vào phòng. Thấy ba ngọn nến bị tắt, cô bé thốt lên: ”Tại sao các bạn không cháy nữa? Cuộc sống này luôn cần các bạn. Hòa Bình, Niềm Tin, Tình Yêu phải luôn tỏa sáng chứ”.

Cây nến thứ tư nãy giờ vẫn lặng lẽ cháy trong góc phòng, đáp lời cô gái: ”Đừng lo. Tôi là Hy Vọng. Nếu tôi còn cháy, dù ngọn lửa rất mong manh, chúng ta vẫn có thể thắp sáng lại Hòa Bình, Niềm Tin và Tình Yêu”. Mắt cô bé sáng lên. Cô bé dùng cây nến thứ tư : Cây – Nến – Hy -Vọng, thắp sáng trở lại các cây nến khác .

Sưu tầm

Như ngôn sứ Isaia, chúng ta bàng hoàng trước hình hài của một con người bị đánh bầm dập, đến mức “Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích”(Is 53,2). Có lẽ nào con người lại độc ác như vậy đối với Con Thiên Chúa, đối với người vô tội? Và, trên đồi Canvê, Con Thiên Chúa đã bị tử hình như một kẻ gian phi. Những đau khổ Người phải chịu từ khi bị kết án tại Công nghị Do Thái cho đến khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, chúng ta gọi đó là “Cuộc Thương khó”. Con Thiên Chúa làm người đã kết thúc cuộc đời trần thế trong đau thương, bị các môn đệ bỏ rơi mặc dù Người tha thiết nài nỉ: “Các con không thức được với Thầy một giờ sao?” (Mt 26,40).

Sự thương khó của Chúa Giêsu là một sự kiện lịch sử nhưng không như một câu chuyện đã cũ. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu khổ nạn vẫn dang hiện diện nơi khuôn mặt của anh chị em tôi, những người đang bị đè nén dưới sức nặng của sự nghèo khó, bệnh tật, bất công, đau khổ, bạo lực. Nếu Đức tin vào Chúa mời gọi tôi đừng dửng dưng với Đấng chịu treo trên thập giá, thì cũng Đức tin ấy nhắc bảo tôi phải có trách nhiệm liên đới với anh chị em tôi đang chịu đau khổ, đang vác thập giá và thậm chí đang bị treo trên cây gỗ khổ hình. Có những khi sự đau khổ của anh chị em tôi đến từ sự vô tâm của tôi, tức là chính tôi đã tạo nên những thập giá nặng nề rồi bắt anh chị em tôi vác. Nếu tôi biết nhận ra gương mặt khả ái của Chúa Giêsu nơi anh chị em tôi, thì cuộc đời này sẽ bớt đi biết bao những bất hạnh. Có thể đói nghèo vẫn còn đó, nhưng đó là sự đói nghèo trong thanh bạch và trong niềm vui. Có thể thập giá cuộc đời vẫn còn đó nhưng sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn vì có mọi người lân cận vác đỡ cho nhau. Có thể đau khổ vẫn còn đó nhưng được siêu nhiên hóa để bớt đi sự hiu quạnh và tìm ra lối thoát. Vâng, Đức Giêsu vẫn đang chịu cực hình khi xung quanh tôi còn có người đau khổ. Bởi lẽ Người đã tự đồng hóa với những người bé mọn, tù đầy đói khát và không chỗ tựa nương. Sự thương khó là câu chuyện xa xưa mà đang tái diễn trong hiện tại. Bài học của cây thập giá luôn luôn là những bài học mới mẻ, giúp tôi có cái nhìn bao dung quảng đại với anh chị em và sẵn sàng đón nhận họ vì họ cùng với tôi làm thành gia đình của Thiên Chúa. Như thế, khi tôi dửng dưng trước nỗi đau khổ của anh chị em, là tôi dửng dưng với Đấng đã chịu khổ hình và đã chết vì tôi.