Mất đức tin

1038

Một số người mất đức tin vì bị một nỗi bất hạnh, ngay cả khi họ đáng phải chịu; vậy mà chẳng có ai mất đức tin vì một niềm vui không đáng hưởng. A.Schnitzler.

Cứ xem một đứa trẻ hư hỏng: nó đòi hỏi cho bằng được đủ mọi thứ, y như đó là một quyền lợi của nó, hễ từ chối một chút là nó dậm chân dậm cẳng, kêu la oai oái.

Nỗi “bất hạnh”, đó là một thử thách, một trách nhiệm về đức tin của tôi: Thiên Chúa đề nghị cho tôi một niềm vui khác. Quay lưng lại với Người, tôi chẳng được gì hơn, mà còn tệ hơn nữa là khác… Trái lại, đón nhận niềm hạnh phúc nhỏ mình không đáng hưởng, đó là bí quyết của một niềm vui và một đức tin đang lớn mạnh: tôi không đáng nhận Thiên Chúa vào nhà tôi, mà cả viên ngọc này trong vườn tôi, bản nhạc này bên cạnh tôi.

Thiên Chúa tốt lành biết bao, Người ban cho tôi mọi sự. Xin Chúa cho con trở nên thi sĩ hơn, trẻ thơ hơn và tin tưởng hơn.

Trên lý thuyết, quả thực là có hai quan điểm khác nhau: một đàng Kitô giáo tin rằng Thiên Chúa an bài sắp đặt mọi sự; còn đàng kia thì cho rằng mọi cái do tình cờ xảy đến. Nhưng trên thực tế có chi là khác đâu: sự thực ngay trước mắt là người có đức tin cũng gặp hoạn nạn, xui xẻo như người không tin vậy: do đó có tin hay không tin Chúa Quan Phòng thì cũng không có gì thay đổi ?

Giữa những người tin và những người không tin có cái gì đó khác biệt, kể cả dưới khía cạnh tâm lý. Chúng ta hãy nghĩ đến một nhóm nhi đồng trong một nhà trẻ, không ai thấy bóng dáng cha mẹ của chúng đâu hết, các em cũng chơi giỡn với nhau và cũng té ngã như nhau. Tuy nhiên, đứa bé còn cha mẹ mang tâm tình khác với đứa bé mồ côi, hay đứa bé lạc lõng. Em bé còn cha mẹ biết rằng sau giờ học, cha mẹ sẽ đến rước em về nhà; còn em bé mồ côi, hay tệ hơn nữa, em bé vô thừa nhận, dù hiện tại có vui chơi nô đùa, nhưng khi tan học, không biết có ai đến đón mình không, và nhất là các em này sẽ không được hưởng tình thương ấm áp của cha mẹ.

Thiết tưởng thí dụ vừa nói cũng có thể áp dụng cho người tin và người không tin nơi Chúa Quan Phòng: cả hai cùng gặp hoạn nạn và may rủi như nhau; nhưng có điều khác biệt này là người tin thì cố gắng nhìn nhận tất cả đều là dấu chỉ của tình thương: họ tin rằng dù có chi xảy ra đi nữa, cặp mắt, bàn tay và con tim của Chúa nhân lành vẫn không hề rời xa họ. Điều đó mang lại rất nhiều yên hàn nội tâm. Sự yên hàn đó còn giúp họ đo lường cái mà người đời gọi là may rủi. Thường cái gì hợp với sở thích của ta, tiện lợi cho ta thì gọi là may: ví dụ, sức khoẻ, tiền bạc, danh vọng. Và nếu xảy ra điều ngược lại thì gọi là xui, rủi. Nhưng chúng ta có ngờ đâu cái may của ngày hôm nay có thể là cái hoạ của ngày mai, và ngược lại. Người tin vào Chúa Quan Phòng cố gắng tìm ra ý nghĩa đích thực của mọi sự vật, mọi biến cố chứ không dựa trên giá trị nhất thời.

Người nào không tin vào Chúa Quan Phòng mới có thái độ ăn không ngồi rồi, phó mặc cho may rủi. Còn người nào tin có Chúa Quan Phòng thì vất vả hơn. Ta có thể lấy thí dụ từ Chúa Giêsu thì rõ. Không ai biết rõ ý định của Chúa Cha hơn Ngài, không ai tín thác nơi Chúa Cha hơn Ngài. Tuy vậy, Ngài đã trải qua rất nhiều thời giờ cầu nguyện, để đàm đạo với Cha, để thấy rõ hơn con đường phải đi, cũng như để lấy thêm nghị lực và hoàn thành chương trình ấy. Trong thư gửi tín hữu Do Thái (5,7-9) tác giả nói rằng khi còn tại thế, Chúa Giêsu nhiều lần than van khóc lóc lớn tiếng để xin Cha cứu mình khỏi chết. Thoạt tiên, xem ra lời cầu khẩn ấy khó chấp nhận được, bởi vì chính Ngài phải trải qua cái chết. Chỉ sau khi đã vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết thì Ngài mới được tôn vinh.

Người thành thực tin nơi Chúa quan phòng, tuy biết rằng Ngài thương yêu đùm bọc ta, nhưng đồng thời họ cũng biết rằng cái nhìn của ta thiển cận và nông cạn, không phải lúc nào cũng phù hợp với cái nhìn của Chúa. Vì vậy mà họ cảm thấy cần cầu nguyện, không phải để xin Chúa chấp nhận tất cả những mơ ước của mình, mà xin cho mình biết chấp nhận chương trình của Chúa.