Nụ cười của bà Sarah

1111

Kinh Thánh thuật lại rằng, khi bà Sarah, vợ của tổ phụ Abraham, một lão bà gần đất xa trời, được Chúa cho biết là sẽ cưu mang và sinh con, bà đã có một phản ứng thật là người và cũng thật là kỳ diệu: bà đã cười! Phải, bà cụ già Sarah có lẽ đã cười khi đứng trước một hoàn cảnh xem ra trớ trêu như thế: một người đàn bà trên 70 tuổi mà còn được Thiên Chúa cho có con…! Thiên Chúa xem ra thích khôi hài!

Và khi Thiên Chú hỏi tại sao cười, Sarah lại chối rằng mình đã không hề cười. Có lẽ do sợ hãi mà Sarah đã nín cười. Sự sợ hãi có lẽ không còn cho con người được nhìn thấy khía cạnh đáng cười, đáng vui trong cuộc sống… Nhưng liền sau khi sinh con, bà Sarah đã tìm lại được óc khôi hài cho nên bà đã đặt cho đứa con một cái tên khá ngộ nghĩnh là Isaac; Isaac theo tiếng Do Thái có nghĩa là được sinh từ một người đã cười…

Cười, cười một cách lạc quan: có lẽ đó là một trong những nét nổi bật của người có niềm tin. Người ta thường định nghĩa rằng: một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn… Tất cả các vị thánh đều là những người có óc khôi hài. Các ngài là những con người đã từng biết cười với cuộc sống, với tha nhân.

Thánh Phanxicô thành Assisi, vị sứ giả của hoà bình, đã có lần tuyên bố: “Hãy trả lại sự buồn phiền cho ma quỷ, bởi vì chỉ có ma quỷ mới có đủ lý do để buồn phiền”.

Cha sở họ Ars, là thánh Gioan Maria Vianey, mặc dù thường được người ta tạc tượng như một con người buồn bã, ảo não, nhưng kỳ thực không ai có tâm hồn vui tươi lạc quan như ngài. Thánh nhân đã nói: “Linh hồn của những ai phục vụ Chúa đều được tràn ngập vui mừng, họ luôn luôn sống như nghỉ ngơi và luôn luôn sẵn sàng để ca hát…”.

Thánh Tomas Moore khi bị đưa lên máy chém, đã nói đùa với ngươi lý hình rằng hãy để cho ngài được giúp một tay, cho việc hành quyết được dễ dành. Ngài còn nói thêm rằng, sau khi đã chém đầu ngài, chớ đụng đến bộ râu vì bộ râu của ngài không hề phản bội một ai…

Một vị tu sĩ nào đó vào thời Trung cổ đã viết như sau: “Một nụ cười và óc khôi hài thu hút được nhiều người đến với tôn giáo hơn là những gương mặt dài vì ủ dột”.

Chúa Giêsu bảo chúng ta rằng: khi ăn chay hãm mình chúng ta hãy xức dầu thơm vào người.

Còn thứ dầu thơm này quý giá hơn để tô thắm cho gương mặt của chúng ta cho bằng niềm vui.

Cuộc sống dù có trăm nghìn vất vả, đau thương vẫn là cuộc sống đã được Chúa trao ban như một kho tàng cao quí nhất.

Tình đời có đen bạc, nhân nghĩa có phôi pha: những con người đang sống với chúng ta vẫn là những người con cái Chúa và là anh em của chúng ta.

Hãy cười với cuộc sống, hãy cười với người anh em của chúng ta: đó là sứ điệp của Kitô giáo mà trọng tâm là mầu nhiệm phục sinh. Qua mầu nhiệm ấy, Thiên Chúa đã cười cợt và thách thức tội lỗi và sự chết. Sự sống và niềm hy vọng đã phát sinh từ cái chết của Đức Kitô.

Tôi đã cố gắng lục lọi tìm tòi qua máy vi tính, nhưng không thấy đoạn văn nào trong Phúc âm nói tới Chúa Giêsu cười. Tác giả của lá thư gửi người Do thái đã viết rằng: Chúa Giêsu đã trở nên hoàn toàn giống như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi (4,25). Thế rồi khi muốn nêu bật điều kiện con người của Chúa Giêsu, tác giả nhắc tới sự kiện là “khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc, mà dâng lời khấn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” (5,7). Như vậy, tác giả nhận xét Chúa Giêsu đã tỏ ra tính con người khi khóc lóc chứ không phải là lúc cười! Thực ra cũng nên biết là tác giả viết thư này cho một cộng đoàn tín hữu đang bị bách hại để nâng đỡ lòng tin của họ, vì thế không lạ gì mà tác giả không nói tới chuyện Chúa cười. – Tuy nhiên, mặc dù Phúc âm không có nói tới việc Chúa cười, nhưng có những đoạn văn cho phép chúng ta tưởng tượng được khuôn mặt tươi cười của Chúa. Thực vậy, Phúc âm không phải chỉ nói tới việc Chúa Giêsu hấp hối trong vườn Cây dầu hay phải chịu khổ hình trên thập giá, nhưng biết bao nhiêu lần còn tới tới việc Chúa đem Tin vui đến cho đời, ngài loan báo tin vui của Thiên Chúa là cha chăm sóc hết nọi người, cha vui mừng khi thấy đứa con lạc đường trở lại. Chúa Giêsu cũng đã mang niềm vui cho bao nhiêu người khi chữa lành bệnh tật cho họ, hoặc đem lại niềm vui cho bao nhiêu gia đình khi thấy thân nhân của mình được khỏi bệnh, được sống lại. Chúng ta có thể áp dụng ở đây một lối nói đã gặp thấy ở trong Cựu ước: khi nói rằng Chúa ban ơn cho ai thì người ta nói rằng “Chúa cười với người ấy”. Thực vậy, xưa nay, chúng ta thường mang ấn tượng là trong Cựu ước, Thiên Chúa hiện ra dưới cảnh uy nghi rực rỡ, tựa như cảnh trên núi Sinai (sách Xuất hành chương 19) hay là trong đền thờ mà ngôn sứ Isaia và Edekiel thuật lại! Nhưng mà sách Sáng thế có đoạn nói tới việc Chúa hiện ra và cười với bà Sara. Lúc đầu, khi nghe báo tin rằng mình sẽ có con, thì cả ông Abraham và bà Sara đều cười bởi vì tưởng Chúa nói giỡn (St 17,16; 18,12). Đến khi sinh được đứa con rồi, thì bà Sara lại nói rằng Chúa đã cười với mình, nghĩa là đã an ủi mình, đã mang lại niềm vui cho mình. Và đứa con được đặt tên là Isaac có nghĩa là “Chúa đã cười với tôi” (St 21,3-6). Như vậy, nói rằng Chúa cười với ai thì có nghĩa là Chúa ban ơn cho người đó. Có lẽ vì vậy mà trong dân Israel, người ta đã cầu chúc cho nhau: “Nguyện xin Thiên Chúa tỏa xuống trên bạn ánh tôn nhan Ngài” (Sách Dân số 6,25; Tv 67,2; 4,7). Dĩ nhiên ở đây ta không hiểu là Chúa phóng tỏa sấm chớp lên người đó, nhưng mà Người tỏ nụ cười duyên với họ, ban cho họ dồi dào phúc lộc. Thế rồi, thánh Luca còn nói tới việc Chúa Giêsu hoan hỉ trong Thánh thần khi dâng lời cảm tạ Chúa Cha đã mặc khải những bí nhiệm nước trời cho những bé nhỏ, đang khi lại giấu ẩn những bậc hiền triết (10,21). Đây cũng là một kiểu nói nữa đã thấy trong Cựu ước. Khi muốn biểu lộ niềm vui sướng, người ta nói rằng “tôi hớn hở nhảy mừng”. Đừng kể rất nhiều thánh vịnh dùng lối nói này, ta có thể trưng dẫn chính Mẹ Maria trong bài ca Magnificat: “linh hồn ngợi khen Thiên Chúa, thần trí tôi nhảy mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu độ của tôi”. Chị hãy tưởng tượng xem khuôn mặt của Mẹ khi thốt lên những lời đó chứ? Phúc âm cũng nói tới việc Chúa Giêsu bị một nhóm nhi đồng tới quấn quít lấy, Ngài đùa giỡn với chúng. Điều đó đã khiến các môn đệ cau mày, vì xem ra Chúa chơi trò trẻ con, thiếu tư cách đạo mạo! Thế nhưng Chúa lại bênh vực các em bé ấy: “Ai không trở nên giống như các em bé ấy thì sẽ không được vào Nước trời”. Chị thử tưởng tượng nét mặt của Chúa Giêsu lúc đó, và cũng đừng nên quên khuôn mặt của các tông đồ đứng bên cạnh. Nói thế không có nghĩa là khuôn mặt các tông đồ lúc nào cũng đằng đằng sát khí đâu. Thánh Luca (10,17) thuật lại rằng sau khi đi giảng về, các môn đệ tới khoe với Chúa vì họ thấy từng đàn ma quỷ sa xuống như sung rụng. Chúa cũng cười với họ, nhưng mà Ngài thêm rằng: “Các con đừng chỉ vui bởi vì thấy quỷ sợ tụi con; hãy vui hơn nữa vì tên các con đã được viết trên trời” (Lc 10,20). Hơn thế nữa, có những đoạn văn xem ra không những là Chúa mỉm cười, mà ra như Ngài muốn chọc cho người khác cũng cười theo. Giuse Phan Tấn Thành, OP