Lịch sự

795

Một nhà hiền triết Hy Lạp gặp một đứa trẻ, đứa trẻ cắt nón chào ông, ông cũng cất nón chào lại. Khi ấy có người thấy thì nói: ông lại phải cất nón mà chào đứa trẻ con như thế sao? Ông trả lời: không lẽ tôi lại thiếu lễ độ hơn đứa trẻ sao?

Cũng ông quân tử ấy, ngày kia gặp một đứa thiếu niên mất dạy trêu chọc ông ngoài đường, ông làm thinh đi qua luôn. Người ta hỏi ông sao không trả lời thì ông đáp lại: như khi tôi đi gần con bò, con bò đá tôi một cái, không lẽ tôi lại đá con bò một cái để trừ sao?

Phép lịch sự là một điều chứng sự văn minh của con người.

Ngài phải trở nên nghèo, vì nếu không, Ngài không thể làm bạn với người nghèo được. Nếu Ngài sinh ra là một vị hoàng tử sống trong điện ngọc cung vàng, thì Ngài sẽ không thể cảm thông được với những ai bần cùng khốn khổ. Nếu Ngài chuẩn bị sẵn cho mình một căn phòng trọ khang trang để chào đời, thì làm sao những mục đồng bé nhỏ có được cơ hội đến kính viếng Ngài? Nếu bố mẹ Ngài là những con người quyền cao chức trọng thì Ngài sẽ chia sẻ điều gì với những người sống trong hoàn cảnh cô thế cô thân? Và nếu Ngài không tự nguyện treo thân trên thập giá, liệu người tử tù có thể được cứu vớt linh hồn vào giờ sau hết không? Giáng sinh nghèo, gia đình nghèo, cuộc sống nghèo và cả cái chết nghèo… Giêsu đã chọn lựa như thế, là vì Ngài muốn đưa người nghèo về với Nước Trời, Ngài muốn nâng người nghèo lên, Ngài muốn nói với họ rằng dù cả thế giới có ruồng bỏ họ, Thiên Chúa vẫn ôm ấp họ vào lòng.

Giữa một xã hội phân cấp và phân tách giai tầng dựa vào khả năng và của cải, Đức Giêsu đã thực thi sứ mạng của mình theo một cách thức khiến cho bao người phải giật mình suy nghĩ. Ngài không giới hạn những lời vàng của mình cho giới quý tộc hay học giả khôn ngoan, nhưng lan tỏa nó ra đến tận mọi người, kể cả những người “ít chất xám” nhất. Đã không biết bao nhiêu lần, trong Kinh Thánh, chúng ta đọc thấy Ngài giảng dạy dân chúng bên bờ hồ, dưới gốc cây, nơi ruộng lúa. Ngài đưa tay chạm đến những người phong cùi, vốn bị cho là kẻ ô uế và phải bị loại ra ngoài xã hội. Ngài làm phép lạ chữa lành các bệnh nhân trước hết bằng cách đến gần, hỏi thăm, chứ không phải đứng từ xa mà phán. Ngài dùng bữa với những bậc quyền quý, nhưng cũng không chê thức ăn của những người thu thuế, đĩ điếm, những người tội lỗi. Ngay cả với những người bị luật lệ khắt khe thời ấy kết án tử, Ngài vẫn tìm cách cứu sống hoặc ít ra cũng trao ban cho họ một niềm an ủi và hy vọng vào sự sống đời sau trên Thiên Đàng. Ngài cũng có lối hành xử rất khôn ngoan khi tiếp xúc với nữ giới – hạng người bị xem thường trong xã hội – đến độ, dù các kẻ thù có ghét cay ghét đắng Ngài, cũng không thể trách cứ Ngài điều gì liên quan đến vấn đề này cả. Còn đối với trẻ em, Ngài không những tạo thiện cảm với chúng, còn thích chơi đùa với chúng, chúc lành cho chúng và lấy chúng làm mẫu mực cho công dân Nước Trời. Có thể nói, Đức Giêsu đã trở thành người của mọi người, Ngài hòa đồng với tất cả, Ngài tận hiến đời mình cho tất cả, Ngài đưa tay ôm ấp tất cả, đặc biệt là những người cô thân cô thế nhất giữa dòng đời.