Chuyện người nay kể -2-

833

Có người trốn tránh quân thù nghịch, đi ẩn núp ở chỗ núi thẳm, hang cùng.

Một đêm gió mát, trăng trong, người ấy bỗng thấy một con ma vẫn vơ quanh quẩn ở dưới cây dương liễu, sợ quá cứ nằm phục xuống, không dám trở dậy.

Con ma thấy thế lại tận nơi bảo:

– Sao không ra đây mà chơi ?

Người kia run cầm cập và trả lời:

– Thưa ông, con sợ ông lắm.

Con ma nói:

– Sao mà gàn thế ? Việc chi phải sợ ? Kẻ mà đáng sợ thì chỉ có giống người là đáng sợ hơn cả mà thôi. Bác thử nghĩ xem. Ai làm cho bác đến nỗi điên bái cơ  cực thế này, người hay ma ?

Ma nói xong cười một hồi rồi biến mất.

Tha nhân là hỏa ngục

Hữu-vị-tha hay tương quan với tha nhân trong quan niệm của Sartre

Tương quan với tha nhân được Sartre mô tả qua ba giai đoạn.

Ở giai đoạn một, tôi không ý thức về sự hiện diện của tha nhân nhưng chỉ ý thức về các sự vật trong thế giới của tôi. Thế giới của tôi được thiết lập ngang qua những bận tâm và dự phóng của riêng tôi. Tôi cần mua thức ăn nên người bán hàng trở nên thành phần trong thế giới của tôi. Cũng vậy, khi tôi đi từ nhà đến cửa hàng, con người, sự vật, quang cảnh phố xá tôi gặp trên đường là thành phần trong thế giới của tôi. Tôi là trung tâm của thế giới đó. Khi tha nhân xuất hiện trong thế giới của tôi, nhưng vì tôi không ý thức về họ, thế giới ấy vẫn thuộc về riêng tôi, theo nghĩa nó xuất hiện ra cho tôi, dưới đôi mắt của tôi.

Đến giai đoạn hai, tôi ý thức về sự xuất hiện của tha nhân. Việc ý thức ấy làm tôi nhận ra tha nhân hoàn toàn khác với các sự vật. Tha nhân là một hữu thể có ý thức như tôi, vì thế, cũng có một dự phóng và là trung tâm của một thế giới. Những gì đang xuất hiện trong thế giới của tôi cũng xuất hiện trong thế giới của tha nhân. Thế giới của tôi và tha nhân hòa trộn vào nhau. Tuy nhiên, cách nào đó, thế giới hòa trộn ấy vẫn còn là thế giới của tôi. Tôi vẫn là trung tâm của thế giới, vì tha nhân chưa ý thức về sự có mặt của tôi. Tha nhân vẫn là một đối thể để tôi tri nhận.

Đến giai đoạn ba, tha nhân ý thức về tôi vì họ nhìn thấy tôi. Tôi trở thành đối tượng cho nhận thức của tha nhân. Lúc này tha nhân trở thành chủ thể và là trung tâm của một thế giới mà tôi là đối tượng trong đó (vì tôi đã bị nhìn).

Cái nhìn của tha nhân làm nảy sinh hai vấn đề. Trước hết, cái nhìn ấy khiến tôi ý thức về mình, về cách thức mà tôi hiện hữu. Ý thức ấy được thể hiện qua cảm xúc xấu hổ. Xấu hổ vì tôi nghĩ tha nhân nhìn tôi một cách tiêu cực và có hình ảnh không tốt về tôi. Cái nhìn của tha nhân làm tôi ý thức về mình, mà ý thức vốn luôn được hiểu như ý thức về một điều nào đó. Vì thế, khi ý thức, tôi tự biến mình thành đối thể để cho ý thức săm soi. Như vậy, tôi không còn là hữu-vị-ngã nữa mà là một tại ngã với những đặc tính sơ cứng. Tại ngã đó chính là hình ảnh tôi tự tạo ra cho tôi vì tôi nghĩ rằng tha nhân nhìn tôi như thế. Thứ đến, cái nhìn của tha nhân trình ra một bản chất khác của tôi. Bản chất này chính là hình ảnh mà tha nhân thực sự nghĩ về tôi. Bản chất ấy cũng là một tại ngã vì nó mang những đặc tính cố định. Sartre miêu tả điều này như sau:

“Chúng ta hãy tưởng tượng rằng, vì tò mò, ghanh tị hay vì một tật xấu nào đó, tôi dán tai vào cửa để nghe lén và nhìn trộm qua lỗ khóa. Tôi ở đó có một mình và hoàn toàn ý thức nhưng không phải là ý thức phản tỉnh, tức là tôi không ý thức về chính mình. Nhưng bất thình lình tôi nghe tiếng bước chân tiến về phía tôi. Rồi ai đó nhìn chằm chằm vào tôi. Tức thì tôi nhận ra tôi (ý thức về mình) và một cách thức tồn tại khác của tôi mà người nhìn tôi thực sự tri nhận tôi.”

Như vậy, cái nhìn của tha nhân biến tôi từ chủ thể thành đối thể. Là một đối thể, một sự vật nên tôi bị tước mất tự do và những dự phóng của riêng mình. Cái nhìn của tha nhân làm cho tôi có cảm giác thế giới của tôi trôi tuột và vai trò trung tâm của tôi cũng chẳng còn. Cái nhìn ấy khiến tôi xấu hổ, sợ hãi, tổn thương và cướp mất chủ thể tính nơi tôi. Lúc này, tôi chẳng khác gì một hữu-tại-ngã sơ cứng. Bởi thế, trong vở kịch No Exit, nhân vật Garcin đã thốt lên: “Tha nhân là địa ngục.” Tuy nhiên, cái nhìn của tha nhân cũng là điều hấp dẫn tôi vô cùng, vì tha nhân có thể nhìn tôi trong một cách thức mà tôi không thể nhìn chính mình. Thế nên trong mức độ nào đó, tha nhân biết tôi thực sự là ai, vì thế, có một khao khát tự nhiên là tôi muốn trở nên một với tha nhân, để tôi có thể biết sự thật về mình.

Như vậy tương quan giữa tôi với tha nhân có hai mặt. Một mặt, tha nhân là nỗi kinh hoàng, đe doạ thế giới của tôi và xoá bỏ những dự phóng mà tôi thiết lập cho bản thân mình. Mặt khác, vì tha nhân nhìn tôi nên họ nắm giữ một sự thật nào đó về tôi, họ hấp dẫn tôi và tôi muốn trở nên một với họ. Tôi đã bị lệ thuộc vào cái nhìn của họ, và như thế, tôi mất đi tự do. Đây chính là ý nghĩa của cụm từ “Hữu-vị-tha”.

Tuy nhiên, tôi không chỉ đóng vai là kẻ-bị-nhìn nhưng còn là người-nhìn-tha nhân. Khi tôi nhìn tha nhân, tha nhân cũng trở thành đối thể bị nhìn. Những gì cái nhìn của tha nhân gây ra cho tôi, giờ đây đến lượt tha nhân phải hứng chịu. Tôi biến tha nhân thành đối thể dưới cái nhìn của tôi cũng như tha nhân biến tôi thành đối thể dưới cái nhìn của họ. Như vậy, tương quan nhân vị thực sự là một tương quan thống trị-phục tùng, đầy những mâu thuẫn và xung đột.

Nói tóm lại, một tương quan chân thực và lành mạnh với tha nhân là điều không thể thực hiện được. Đó là một dự phóng bất khả thi. Tuy nhiên, quan điểm này của Sartre sẽ bị khuôn mặt của Levinas thách thức và thách thức cho đến tận cùng.

“Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng phải yêu mến anh em.” 1Ga 4, 20