Ăn chung

930

Lúc đó khoảng 8;30 sáng, phòng cấp cứu rất bận rộn. Một ông cụ khoảng trên 80 tuổi bước vào phòng và yêu cầu được cắt chỉ khâu ở ngón tay cái. Ông cu nói ông rất vội vì ông có một cuộc hẹn vào lúc 9 giờ. Tôi bắt mạch, đo huyết áp cho ông cụ xong, tôi bảo ông ngôi chờ vì tôi biết phài hơn một tiếng đồng hồ nữa mới có người đến cắt chỉ khâu cho ông. Tôi thấy ông nôn nóng nhìn đồng hồ nên tôi quyết định sẽ đích thân khám vết thương ở ngón tay cái của ông cụ. vì lúc đó tôi cũng không bận với một bịnh nhân nào khác cả.

Khi khám tôi nhận thấy vết thương đã lành tốt vì vậy tôi đi lấy dụng cụ để tháo chỉ khâu ra và bôi thuốc vào vết thương cho ông cụ. Trong khi săn sóc vết thương cho ông cụ tôi hỏi ông là ông vội như vậy chắc là ông có môt cuộc hẹn với một bác sĩ khác sáng hôm nay phài không.

Ông nói không phải vậy nhưng ông cần phải đi đến nhà dưỡng lão để ăn điểm tâm với bà cụ vợ của ông ở đó.

Tôi hỏi thăm sức khỏe của bà cụ thì ông cho biết là bà đã ở viện dưỡng lão một thời gian khá lâu rồi và bà bị bệnh Alzheimer (bệnh mất trí nhớ ở người lớn tuổi). Khi nói chuyện tôi có hỏi ông cụ là liệu bà cụ có buồn không nếu ông đến trể một chút. Ông cụ nói bà ấy không còn biết ông là ai nữa và đã 5 năm nay rồi bà không còn nhận ra ông nữa. Tôi ngạc nhiên quá và hỏi ông cụ, ‘ và Bác vẫn đến ăn sáng với Bác gái mỗi buồi sáng mặc dù Bác gái không còn biết Bác là ai nữa?’ Ông cụ mĩm cười, vỗ nhẹ vào tay tôi rồi nói ‘Bà ấy không còn  biết tôi nữa nhưng tôi vẫn còn biết bà ấy là ai.’

Khi ông cụ bước ra khỏi phòng, tôi phải cố gắng lắm để khỏi bật khóc. Tôi vô cùng xúc động và thầm nghĩ, ‘Ước gì đời mình có được một tình yêu như thế!’

Theo Phúc Âm thánh Matthêu, sau khi tuyên bố “Bởi lẽ đó, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ, và luyến ái người vợ của mình, và cả hai sẽ thành nên một huyết nhục, như thế họ không còn phải là hai, nhưng là một huyết nhục”, Chúa Giêsu kết luận: “Vậy điều gì mà Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19, 4-6). Dựa vào đó, Giáo Luật điều 1056 quy định: “Những đặc tính căn bản của hôn phối là sự duy nhất bất khả phân ly. Nhờ tính cách Bí Tích, những đặc tính ấy được kiện toàn trong hôn phối Kitô giáo”. Thực tế mà nói “hôn phối duy nhất” là “chỉ có một vợ một chồng” hay “nhất phu nhất phụ”, và “hôn phối bất khả phân ly” là không “có vấn đề ly dị”.
 
1. Nhất phu nhất phụ: Thiên Chúa đã ấn định đặc tính này của hôn nhân ngay trong việc sáng tạo loài người. Ngài chỉ dựng nên một Adong và một Eva, chứ không hai Adong và một Eva hay một Adong và hai Eva. Do đó “một vợ, một chồng là quy luật của Thiên Chúa”. Luật này đã bị vi phạm rất nhiều lần, kể cả bởi các tổ phụ trong thời Cựu Ước. Đức Kitô đã tái lập lại trật tự của thuở ban đầu và ban ơn thánh để giúp vợ chồng sống chung thủy với nhau. Nghịch với đặc tính “nhất phu nhất phụ” là “đa thê hay đa phu” hiện đang có ở nhiều tôn giáo, nhiều phần đất trên thế giới. Dân luật của nước Pháp chỉ chấp nhận chế độ “nhất phu nhất phụ” (xem bài của Ls Lê Đình Thông).
 
2. Bất khả phân ly: Ðể trung thành với lệnh truyền của Chúa Giêsu “Ðiều mà Thiên Chúa liên kết loài người không được phân ly”, mỗi người trẻ sắp bước vào đời sống hôn nhân xác tín trong tờ “khai chí hướng” (Déclaration d’intention) rằng: “Với sự quyết tuyển tương hỗ này, tôi muốn thiết lập giữa hai chúng tôi một mối dây thánh mà trót đời chúng tôi, không một nguyên nhân nào có thể phá hủy. Tôi quyết tâm làm mọi cách để tình yêu của hai chúng tôi lớn mạnh trong sự chung thủy toàn diện”. Nói một cách khác đôi bạn nhất trí chung thủy, sống với nhau trọn đời, không chấp nhận việc ly dị.
 
Không chấp nhận việc ly dị, đó là điều đã được khẳng định trong Giáo Luật điều 1141: “Hôn phối thành nhận và hoàn hợp không thể bị tháo gỡ bởi một quyền bính nhân loại hay một nguyên do nào khác ngoại trừ sự chết”. Hôn phối thành nhận (conclu) là khi đôi bạn đã làm hôn thú, đã lãnh bí tích và hôn phối hoàn hợp (consommé) là sau ngày cưới, đôi bạn đã giao hợp với nhau.
 
Tại sao Giáo Hội không cho phép ly dị? Có nhiều lý do:
 
1) Trung thành với luật của Chúa, Ðấng đã dựng nên đôi vợ chồng đầu tiên, chỉ có một ông Adong và một bà Eva (Xem St 2, 21-23), và đã ấn định tính cách vững bền của hôn nhân khi truyền lệnh “Ðiều mà Thiên Chúa liên kết, loài người không được tháo gỡ (Mt 19, 6).
 
2) Bảo đảm hạnh phúc cho đôi bạn, bằng cách giúp đôi bạn giữ trọn lời đã giao ước với nhau. Quả vậy, sau những ngày tháng tìm hiểu, suy nghĩ và cầu nguyện, đôi bạn đã long trọng và công khai giao ước với nhau trong ngày lễ thành hôn, trước sự chứng giám của linh mục, hai nhân chứng và cả cộng đoàn. Người nam giao ước với người nữ: “Anh nhận em làm vợ và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”. Người nữ cũng giao ước với người nam như vậy. Sống trọn lời giao ước đó mỗi ngày là chìa khóa tạo hạnh phúc cho nhau.
 
3) Bảo đảm hạnh phúc cho con cái của họ. Càng thương nhau, càng chung thủy với nhau, đôi bạn càng chung sức trong trách nhiệm “sinh dưỡng và giáo dục con cái”. Kinh nghiệm thực tế minh xác điều đó.
 
Những điều trên đây được đúc kết trong giáo huấn của Công Ðồng Vatican II: “Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ “không còn là hai nhưng là một xương thịt” (Mt 19, 6) phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày mỗi đầy đủ hơn. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly (MV 48).