Khốn cùng

863

Minh Sư nói: “Hoạn nạn có thể làm cho ta thăng tiến và giác ngộ.”

Và ngài đã giải thích điều đó như sau:

Một con chim hằng ngày thường tìm nơi trú ẩn trên những cành khô héo của một cây đại thụ mọc giữa cánh đồng hoang vắng. Ngày kia, một trận cuồng phong nổi lên làm tróc rễ cây đại thụ, buộc con chim đáng thương kia phải vỗ cánh cả trăm dặm đi tìm một nơi trú ẩn khác – cuối cùng, nó đến được một khu rừng với những cây cối nặng trĩu hoa trái.

Rồi ngài kết luận: “Nếu cây đại thụ khô héo kia còn sống, không có gì thúc đẩy nổi con chim rời bỏ nơi an ổn sẵn có để vỗ cánh tung bay.”

Anthony de Mello, S.J.

“Nếu không có những tháng ngày gian khổ…”

* Đường con đi, có hoa thơm, cảnh đẹp, có chông gai, có hùm beo, có bạn hiền, có trộm cướp, lúc mưa sa, lúc nắng cháy, chuyện không thể tránh được.

Con cứ đi, miễn lòng con đầy Chúa, đi như Phanxicô, như Cyrillô, Athanasiô… đừng mất thì giờ đứng lại, đừng sợ tiếng chửi, đừng ăn mày tiếng khen (ĐHV 693).

* Giữa những thử thách, con hãy nghĩ gian khổ sánh sao được với nước Thiên Đàng. Đó là phương pháp của Chúa: “Phước cho ai khó nghèo, ai khóc lóc, ai chịu bắt bớ… vì Nước Thiên Đàng là của mình vậy” (ĐHV 695).

* Hoạt động con bị hạn chế, danh tiếng con bị lu mờ, chống đối dồn dập tứ phía! Hãy đợi chờ giờ của Chúa: “Cây nào tốt, Cha Ta sẽ tỉa”; cành non sẽ đâm chồi, nở hoa, mang trái nặng trĩu hơn (ĐHV 698).

* Không có cơn thử thách nào lớn lao bằng cơn thử thách của Chúa Giêsu trên thánh giá, lúc xác hấp hối, tâm hồn lại cảm thấy chính Đức Chúa Cha như cũng bỏ mình, Chúa Giêsu phải nói lên nỗi khổ e chề nhất trong đời Ngài: “Sao Cha bỏ con!” Hãy hiệp nhất với Chúa Giêsu trong những giây phút hãi hùng, tăm tối nhất của đời con. Bình an sẽ trở lại và con sẽ nói được như Chúa Giêsu: “Con phó mạng sống con trong tay Cha!” (ĐHV 715).

Năm 1953…

Giáo Hội Ba Lan rùng mình trước tin Đức Cha Baraniak bị bắt.

Một tháng sau, vào một đêm khuya tĩnh mịch, Đức Hồng Y Wyzynsky nghe có tiếng chuông reo, ngài vội vã ra mở cửa. Con chó trong nhà nhác trông thấy có nhiều người lạ lố nhố ngoài hiên liền nhảy vồ ra ngoặm ngay vào cánh tay một người. Đức Hồng Y bình tĩnh lấy thuốc rịt vết thương lại và khoác lên mình người lạ một chiếc áo choàng cho y đỡ rét.

Khi biết rõ ý định của họ, ngài xin được sang chào ông cố của ngài đang ở phòng bên cạnh. Họ lắc đầu. Ngài bước lên một xe bịt bùng và đoàn xe bắt đầu chuyển bánh trong đêm…

Sau hai năm cầm tù, ngài còn bị quản chế thêm nhiều tháng ngày nữa tại nhiều nơi trên khắp lãnh thổ Ba Lan. Trung bình cứ mỗi tháng, ngài đều “được” thay đổi nơi cư trú 2,3 lần, vì nghe ngài ở tại đâu, giáo dân khắp nơi đều ùn ùn kéo đến và mặc dù không thấy mặt ngài, họ cũng vây quanh vườn đọc kinh cầu nguyện cho ngài rồi ra về. Thế là chỉ trong vòng mấy năm, ngài hân hạnh được ở khắp đó đây trong nước.

Sau những biến động vào mùa thu năm 1956, ngài được trở về giữa niềm hân hoan, kính mến và tin tưởng của toàn thể giáo hữu. Năm 1957, Đại Hội Thánh Thể được tổ chức long trọng tại thủ đô Varsovie, giáo phận của ngài, hơn nửa triệu giáo dân đã đến tham dự.

Đức Thánh Cha Piô XII đã trao cho ngài đặc quyền được thay thế Đức Giáo Hoàng cắt cử các Giám mục khắp nước Ba Lan. Và ngài đã làm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ba Lan từ đó đến nay. Ai ai cũng gọi ngài là “con người của Chúa Quan Phòng”, vì ngài đã sáng suốt hướng dẫn Giáo Hội Ba Lan và tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp với nhà nước của quốc gia ấy. Có nhiều người, nhất là các phóng viên báo chí, muốn tò mò tìm hiểu các chi tiết của những ngày gian khổ trong đời ngài, đã được ngài trả lời gọn ghẽ: “Tôi đã hiến dâng tất cả cho Mẹ Maria. Tôi không muốn nhắc lại quá khứ. Ta hãy nhìn thẳng vào tương lai mà tiến lên”.

Trong bài diễn văn đáp lời chúc mừng của Đức Hồng Y Wyzynsky đại diện cho Giáo hội Ba Lan, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô II đã khai mở bằng một giọng đầy tri ân trìu mến: “Thưa Đức Hồng Y, nếu không có những tháng ngày gian khổ của Đức Hồng Y, thì hôm nay không thể có một người con của Giáo Hội Ba Lan ngồi trên toà Phêrô được”.