Giám mục De Cheverus

755

Ở ngoài thành Boston, có một người da đen nghèo khổ, tàn tật, mình đầy ghẻ chốc, nằm bẹp trên chiếc chõng trong một túp lều bên cạnh đường lộ. Nhiều người qua lại trông thấy nhưng không có ai dừng chân lại để hỏi thăm và giúp đỡ.

Nghe tin đó, Đức Giám mục quyết đi thăm. Mỗi chiều, lúc mặt trời đã lặn. Ngài đến rửa ráy, băng bó, dọn giường chiếu và cấp cho y đủ mọi thứ nhu cầu. Việc từ thiện này Ngài làm trong đêm tối và không muốn cho ai biết.

Nhưng bà lão nấu cơm cho Ngài sáng nào cũng nhận thấy áo Ngài lấm láp bụi bặm thì tò mò muốn biết tại đâu. Rồi một chiều tối kia thấy Đức Giám mục đi ra, bà liền theo xa xa, và trông thấy Ngài vào cái lều nhỏ của người da đen, thị nín hơi, rón rén lại gần nhòm qua kẽ cửa hở, kinh ngạc quá: Đức Cha thấp hèn, vực người ốm ngồi lên, hỏi han, rửa và băng bó, rồi dọn giường, giũ chiếu chăn và giúp y ăn uống. Khi đã ăn uống xong, lại nương nhẹ đặt y nằm xuống. đắp chăn cho, hôn mặt và chúc cho ngủ một giấc ngon. Trước khi trở về, Ngài để vừa tầm tay y đồ ăn và bánh quà Ngài đã đem theo.

Thế là ngay sáng hôm sau, cả thành Boston đều biết…

Một người nghèo chạy đến phía trước Đức Phật vừa khóc vừa hỏi Ngài:

“Tại sao con làm việc gì cũng không thành công, đó là do duyên cớ gì ạ?”

Đức Phật nói với anh ta: “Đó là bởi vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.”

Người kia thưa: “Nhưng con là một người nghèo khó không có tiền, làm sao có thể bố thí!”

Đức Phật dạy: “Đều không phải như thế. Một người cho dù hoàn toàn không có tiền, vẫn có thể cho người khác 7 thứ:

1. Nhan thí – Cho đi bằng nét mặt. Chúng ta có thể cho đi nụ cười niềm nở đến những người xung quanh hàng ngày mà mình gặp trong cuộc sống.

2. Ngôn thí – Cho đi bằng lời nói. Chúng ta có thể nói nhiều những lời nói ấm áp, khiêm nhường, khen ngợi, an ủi, khích lệ, cổ vũ và động viên người khác.

3. Tâm thí – Cho đi bằng tấm lòng. “Sưởng khai tâm phi, thành khẩn đãi nhân”, có nghĩa rằng mở rộng tấm lòng, chân thật, thành tâm đối đãi với người khác.

4. Nhãn thí – Cho đi những ánh mắt, những cái nhìn hiền từ. Dùng ánh mắt thiện ý để nhìn người khác.

5. Thân thí – Cho đi bằng hành động nhân ái. Dùng hành động nhân ái để đi giúp đỡ người khác.

6. Tọa thí – Cho đi bằng nhường chỗ ngồi cho người cần. Khi đi xe hay trên thuyền có thể nhường chỗ ngồi của mình cho người cần.

7. Phòng thí – Bố thí nơi ở: Đem phòng còn trống cho người khác nghỉ ngơi.

Cuối cùng Đức Phật nói: “Cho dù là ai, chỉ cần tập thành 7 thói quen này thì vận may sẽ đi theo “như hình với bóng”!

Kinh Thánh lên án keo kiệt , nhưng đề cao sự hào phóng , và hứa hẹn rằng ai làm phúc cho người nghèo sẽ được Thiên Chúa khen thưởng ( xem ví dụ , G 22, 6-7; 31,16 ; Cn 11,25; 28,27 ; Gv 21:5; Is 58,10 ; Mt 7,2 ; 10,42) . Một số cảnh trong Kinh Thánh cho thấy người nghèo mong đợi tấm lòng bác ái từ người khác , mặc dù các từ “của cải làm phúc” hoặc ” việc làm phúc ” đã không được sử dụng. Ví dụ, người mù được Chúa Giêsu chữa lành thường thấy ăn xin trong đền thờ (Ga 9,8).  Sách Đệ Nhị Luật ra lệnh cho dân Do Thái thời xưa chia sẻ huê lợi mùa màng của họ ” để thầy Lê-vi -là người không được chung phần và hưởng gia nghiệp với anh (em)- người ngoại kiều và cô nhi quả phụ ở trong các thành của anh (em), sẽ đến, họ sẽ ăn và được no nê. .. ” (Tl 14,29; 15,7-8 ; 24,19-22 ; 26,12-13 ; Lv 19,9) . Những sách Cựu Ước sau này như sách Tôbia và Huấn Ca nhấn mạnh đến việc làm phúc bố thí và khuyên nhủ mọi người làm theo.

Ông Tôbit khuyên con trai mình là Tôbia làm phúc bố thí cho dù Tôbia có rất ít tài sản( Tb 4,08 , 16 ; Gv 7,10 ) . Vì rằng ai làm phúc bố thí sẽ được Thiên Chúa tưởng thưởng: Ngài sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ, sẽ ân ban một cuộc sống đầy đủ, và sẽ bảo vệ người đó khỏi sự dữ ( Tb 47 , 12,9 ; Gv 29,12 ) . Làm phúc bố thí còn được coi là quan trọng hơn cả lời cầu nguyện và ăn chay ( Tb 12,8) , làm phúc bố thí cũng có thể cứu người thoát khỏi cái chết (Tb 4,10) .

Trong Tân Ước, làm phúc bố thí có vẻ là một thực hành tôn giáo phổ biến. Trong Bài Giảng Trên Núi Chúa Giêsu tuyên bố rằng khi làm phúc bố thí phải làm trong âm thầm kín đáo không phô trương (Mt 6,2-4 ) . Người ăn xin và kẻ tật nguyền đã tập trung tại đền thờ để thu thập bố thí từ các tín đồ (Cv 3,2-3),  và dân ngoại được ngưỡng mộ khi làm phúc bố thí (Cv 10,2.4 ) . Các thành viên của cộng đoàn Kitô giáo sơ khai được mời gọi làm việc bác ái giúp người nghèo (Cv 9,36 ; 24,17 ) và họ nhận được phần thưởng từ Chúa Phục Sinh (Lc 11,41 ;12,33 , Cv 10.4 , 31) . Trong thực tế, hoạt động từ thiện như cho kẻ đói ăn , cho kẻ khát uống , và cho kẻ rách rưới áo quần thường được coi là một trách nhiệm quan trọng phải thực hiện của  một Kitô hữu (Mt 25,31-46).