Con cá biết đi

1048

Một người thích chơi các loài cá cảnh. Lần nọ, anh đi nghỉ ở biển và tìm mua được một con cá ngũ sắc tuyệt đẹp. Anh mang cá về nhà và chăm sóc nó rất công phu. Vốn là một người chuyên nuôi dạy các loài vật nên anh lên một chương trình tập luyện cho con cá của mình. Tuần lễ đầu tiên anh nuôi cá trong hồ chứa toàn nước biển. Tuần tiếp theo anh thêm một ít nước ngọt. Cứ như thế, vài tháng sau con cá đã sống thoải mái trong hồ nước ngọt và vui mừng với những thức ăn nước ngọt. Con cá lớn dần.

Giai đoạn hai của công việc “huấn luyện” còn kỳ công hơn nữa. Anh trộn một phần bùn vào nước và tăng dần lượng bùn theo thời gian. Lâu dần, con cá chỉ còn di chuyển trong một hồ chứa bùn sền sệt. Một năm sau, bùn được thay hẳn bằng đất và con cá nằm trên hồ đất đớp mồi như một con chuột nhỏ. Anh chủ cá chưa hài lòng với điều đó. Anh xỏ dây vào mang cá và tập cho nó đi trên mặt đất. Mấy tháng sau nữa, đi đâu anh cũng dắt con cá theo mình. Khi con cá đã quen dần, anh cắt dây. Con cá lách tách nhảy theo chủ như một con chó nhỏ trung thành.

Một hôm, con cá theo chủ đi thăm viếng bạn bè của anh ta. Khi trở về nhà trời đổ mưa to. Con cá ráng sức chạy lạch đạch phía sau chủ mình… Lúc tìm được một chỗ trú mưa, người chủ sực nhớ đến con cá của mình nhưng không thấy nó đâu nữa. Anh ta quay lại quãng đường ban nãy để tìm con cá. Anh thấy nó nằm chết trong một ổ gà trên đường đọng nước mưa tràn trề. Nó chết đuối vì không biết bơi! Cũng chỉ vì những thói quen mới…

Các cuộc thống kê đã nhắc nhở chúng ta lưu ý đến tình trạng sút giảm con số tín hữu tham gia thánh lễ chủ nhật. Chúng ta không thể làm ngơ trước sự kiện nầy: Mọi người cần giật mình và xét mình lại, vì nếu chuyên cần đi lễ không phải là tiêu chuẩn duy nhất để định giá nếp sống đạo, thì đó cũng là một trong những dấu chỉ đáng lưu ý nhất.  Chúng ta xin Chúa soi sáng cho chúng ta biết tại sao có sự thụt lùi ấy.

Trước hết, tôi nghĩ là cần lưu ý điểm nầy: đừng tự đóng khung vào một quan điểm thuần xã hội học. Mức linh hoạt của cuộc sống đạo không đo lường được vào số lượng, nhưng vào chiều sâu cuộc sống đức tin. Chúa Giêsu không bao giờ nói các môn đệ Ngài sẽ nắm phần đa số dân cư trên thế giới. Ngài nói đến men trong bột, và muối.  Những lời nói tượng trưng đó nhắc chúng ta hiểu rằng quyền năng của Thánh Thần không đo lường dựa vào số lượng. Các tông đồ chỉ có Mười hai để mang Tin-mừng đến tận cùng trái đất. Những Kitô hữu tiên khởi chìm vào trong quần chúng của lương dân, và họ đã phải đổ máu mình vì trung thành với Chúa.

Từ khi Kitô giáo trở thành quốc giáo trong Đế quốc Rôma, kể từ Constantinô, “phẩm chất” cuộc sống Kitô giáo nhiều lần từng là nạn nhân bởi sự thành công về số lượng của mình; cá nhân mỗi một người chịu phép rửa tội đã lơ là phận vụ dấn thân một cách thâm tín. Trước đây, chúng ta từng chứng kiến một nước, một xứ Kitô giáo với một dân cư hầu như thuần nhất, sống cuộc sống tôn giáo và cả cuộc sống dân sự theo nhịp của niên lịch phụng vụ; nhưng nay Kitô hữu lại chìm ngập vào một thế giới đa nguyên, mọi sự đều đặt lại thành vấn đề.

Hoàn cảnh ấy buộc chúng ta phải ý thức lại chính mình, về lý lịch Kitô giáo của mình trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Nó thúc đẩy chúng ta tìm lại những nguồn suối tươi mát làm nên cuộc sống Kitô giáo và giúp chúng ta nối tiếp Giáo hội thời nguyên thủy.

Muốn có một hình ảnh sinh động nhất, chỉ cần đọc lại Thánh Phaolô để xác tín; hình ảnh Kitô hữu nơi ấy là nguồn suối tô bồi cuộc sống đức tin chúng ta. Sách Tông đồ Công vụ kể cho chúng ta biết lịch sử Giáo hội sơ khai; và điều đáng lưu ý, là vào thời nầy mỗi Kitô hữu, bất kỳ ở đâu và đi đâu, đều cố gắng làm chứng về đức tin của mình.

Quá nhiều Kitô hữu  – ngay cả những người sùng đạo –  đã không ý thức đủ về việc Kitô hữu là một “kẻ đang thi hành nhiệm vụ, nghĩa là đang truyền giáo”, “một người được Chúa Giêsu Kitô ủy thác nhiều người khác cho mình” (Lacordaire), một người, không những tiếp nhận đức tin cho chính mình và người thân của mình, mà còn phải tuyên xưng và rao truyền đức tin, vì biết rằng Chúa Giêsu đã từng nói: ”Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt. 10, 32).

Đối với người Kitô hữu thời sơ khai, nhập đạo, được rửa tội bằng nước và trong Thánh Thần, là chia sẻ tức khắc bí quyết và niềm vui cho những người chung quanh mình, là thực thi đức tin bằng lời nói, việc làm trong cuộc sống hằng ngày ở giữa những người chưa nhận biết Chúa chung quanh họ. Họ chia sẻ của cải, lo lắng giúp đỡ người nghèo. Cuộc quyên góp của Phaolô giúp cho những người nghèo ở Giêrusalem là một thí dụ, họ ân cần tiếp đón những người anh em đi đường xa; tất cả những việc đó như là sinh hoạt đương nhiên của một đức tin sống động và cùng chia sẻ. Mỗi người cảm thấy cùng mang trách nhiệm để thực thi và truyền bá sứ điệp mang lại sự sống. Các Kitô hữu ấy đã từng gặp Chúa Giêsu Kitô; Chúa đã là “Một Ai “ trong đời họ; Ngài đã là Thầy và Chúa của họ.

Đối với họ, cuộc gặp gỡ ấy thay đổi tất cả đời họ: Nơi Ngài, họ có được bí quyết sống và ý nghĩa của sự chết; trong Ngài và nhờ Ngài, họ tiếp nhận cùng một Thánh Thần và đến được Chúa Cha. Từ sự kiện nầy, họ tập họp nhau lại tuyên xưng đức tin mình vào Chúa Giêsu và mừng Thánh-thể ( tưởng nhớ cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa ) chỉ còn một bước. Kitô hữu lúc bấy giờ không cần một qui thức nào để tuyên xưng Chúa Kitô và tôn vinh các mầu nhiệm của Ngài; Ngài chính là ý nghĩa sống của họ. Việc tập họp các môn đệ chung quanh bàn thánh của Chúa là việc làm đương nhiên phát xuất từ lòng tin của họ. 

Muốn phục hoạt tận căn hoàn cảnh hiện nay, mỗi Kitô hữu cần hiểu biết về ơn gọi  – giá trị cao cả của mình –  qua bí tích rửa tội, và các cộng đoàn Kitô hữu sống động, gồm nhiều Kitô hữu thực sự dấn thân, phải cùng nhau làm chứng về xác tín đó giữa lòng thế giới.

Nhưng, chúng ta đọc tiếp sách Tông-đồ Công-vụ, so sánh đối chiếu với hoàn cảnh chúng ta để thấy rõ hơn. Khi đọc những trang nầy, ta sẽ nhận ra rằng cuộc sống Kitô hữu là nền tảng cho những cuộc gặp gỡ huynh đệ khác nhau. Sách viết rằng: “Họ chuyên cần nghe các Tông-đồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện” (Cv. 2, 42).

Cần phải cân nhắc từng chữ. Cộng đoàn Kitô hữu là một cộng đoàn “tông truyền”, nghĩa là tập trung vào Lời Chúa được các tông đồ truyền lại, phân tích và giảng giải. Ngay từ đầu, sự kiện đó là một tham chiếu thiết yếu: một cộng đoàn chỉ được gọi là Kitô giáo khi được nối kết chặt chẽ với các tông đồ và các vị kế tục các ngài, và kết chặt với Lời Chúa xuyên qua các vị ấy. Cộng đoàn ấy có nét đặc biệt là mối hiệp thông huynh đệ đầy yêu thương: Hãy xem họ thương yêu nhau hết lòng. Người chung quanh đã nêu lên lời đó để mô tả cộng đoàn Kitô giáo.

Mối hiệp thông đó không phải là kết quả của những thoả thuận do con người, của một sự chọn lựa chung để tiến đến một mục tiêu thiết định trước; nhưng nó nằm sâu nơi mối hiệp thông với Chúa, với Lời Ngài, với Thánh Thần của Ngài, và với Thánh-thể của Ngài. Những lời trong sách Công-vụ nói rõ là các tín hữu họp nhau lại để bẻ bánh, nghĩa là cử hành “việc tưởng niệm của Chúa”như Chúa Giêsu đã từng dạy các môn đệ Ngài thực hiện, để thông dự vào mầu nhiệm của sự chết và sự sống lại của Ngài “cho đến khi Ngài lại đến”. Chính Chúa Giêsu Kitô sống bên trong họ, thực hiện mối hiệp nhất siêu việt nầy, vượt lên trên tất cả những gì đang phân cách và chia rẽ con người.

Họ không những chuyên cần tham dự nghi lễ phụng vụ, mà còn tập họp với nhau để cầu nguyện, như sách Công vụ nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Khi Phê-rô ra khỏi tù, “ông đến nhà bà Maria, mẹ của Gioan được gọi là Marcô, ở đó có khá đông người đang tụ họp và cầu nguyện” (Cv.  12, 12).

Khi Phaolô bị bắt và bị nhốt trong tù, chân bị cùm kẹp, người ta mô tả ngài đang cầu nguyện: “Vào quãng nửa đêm, ông Phaolô và ông Xila hát thánh ca cầu nguyện với Thiên Chúa, các người tù nghe hai ông hát” (Cv. 16, 25).

Những lối cầu nguyện tự phát, tập thể như thế là nhịp sống của Kitô hữu: chúng nối dài các nghi thức phụng tự, làm khuôn khổ cho các nghi lễ, được xem là những thời điểm cao độ của sinh hoạt nầy.

Lịch sử Giáo hội thời sơ khai cũng giúp chúng ta hiểu được diễn tiến của việc cử hành thánh lễ dần hồi qui về ngày chủ nhật. Buổi đầu, cũng như chính Chúa Giêsu lúc đang tại thế đã làm, những người Kitô hữu vẫn tiếp tục lên đền thánh Giêrusalem, đồng thời họ tụ họp lại với nhau để cầu nguyện và học hỏi về lời dạy của Thầy. Ngày Sabát là ngày nghỉ lễ của dân Do-thái nay đối với Kitô hữu là ngày chủ nhật, được hiểu là ngày của Chúa. Ý nghĩa của sự chọn lựa nầy phát xuất từ ánh sáng của mầu nhiệm phục sinh.  Mỗi Kitô hữu, thông hiệp với anh chị em mình để mừng phục sinh của Chúa, cuộc vượt qua từ cõi chết đến sự sống lại. Đó là ngày lễ đúng nghĩa, trọng đại nhất, ngày chúng ta mừng biến cố quyết định cho chính cuộc đời chúng ta. Vì chúng ta chôn vùi sự chết của mình trong cái chết của Đức Kitô và tìm gặp được sự sống khải hoàn muôn đời.

Qua bao thế kỷ, mầu nhiệm phục sinh đạt đến đỉnh cao nơi Thánh Thần hiện xuống, đã không ngừng được cử hành và thấm nhuần cuộc sống Giáo hội; lời ca mừng Alleluia phục sinh rộn rã vang lên trong các nghi thức phụng vụ như chuông đổ dồn trong ngày hội lễ tạo nên bầu khí linh thiêng giữa cộng đồng Kitô hữu, giúp họ tiếp nhận niềm vui cao cả và cảm nghiệm được Chúa hiện diện ngay nơi nỗi khổ đau và thử thách của đời họ. Phục sinh và điểm chung toàn của biến cố nầy là Hiện Xuống, đó chính là sự hòa giải giữa nhân loại ( nơi hình ảnh của người con hoang đàng mà Chúa Giêsu đã nói đến, của người con nhận ra được tất cả những yếu hèn và khốn cùng của mình ) với Cha đang giang tay đón mình trong Con Ngài để chúng ta được ở trong vinh quang tình yêu của Ngài.

Nếu chúng ta muốn khám phá ra lại ý nghĩa sâu xa của việc cử hành Thánh-thể, chúng ta cần phải ý thức lại ý nghĩa mầu nhiệm phục sinh, mà mỗi chủ nhật nhắc nhở chúng ta và tìm lại ý nghĩa của giao ước mới và vĩnh cửu đưa chúng ta vào cuộc sống thân mật thật sự với Chúa.

Nếu hôm nay Giáo hội còn mời gọi chúng ta cùng cử hành tưởng niệm Chúa chung với nhau trong ngày chủ nhật, là vì Giáo hội trung thành với Thầy và muốn tiếp tục một truyền thống cầu nguyện, là hơi thở của chính cuộc sống cộng đồng của mình cũng như muốn truyền hơi sống ấy cho trần thế.

Qua các thế kỷ, lời mời gọi đó đã mang hình thức của một luật buộc, vì Giáo-hội biết rằng cuộc gặp gỡ huynh đệ với Chúa như thế đúng là nguồn sống. Nếu chỉ xem lời mời gọi nầy như một lề luật xét về mặt pháp lý, áp dụng tùy tiện từ bên ngoài, thì sẽ không hiểu được ý định thâm sâu của Giáo hội; lời dạy nầy chỉ truyền đạt và cô đọng lời mời gọi của Chúa, xin các môn đệ Ngài ăn lễ vượt qua với Ngài cho đến khi Ngài trở lại trong vinh quang.

Kỳ thực, trước tiên không phải là vấn đề “buộc phải” dự lễ, nhưng là “có thể” tham dự.  Trước hết không phải chính chúng ta cảm nghiệm như thế nào khi dự lễ, nhưng là việc Chúa hoàn thành nơi thánh lễ ấy. Chỉ có đức tin mới dẫn đưa chúng ta tiếp cận “mầu nhiệm của đức tin” nầy, lượng định hoặc cảm nhận được giá trị của nó. 

Nếu có ai thích nói rằng việc cử hành thánh lễ sao mà xa lạ với đời sống, với các vấn đề nhân sinh, quá giả tạo và nhạt nhẽo không ăn nhập gì với một cộng đồng thực sự, với một lễ nghi linh động, thì chúng ta nói rằng: “bạn không có quyền chỉ trích việc cử hành thánh lễ trong họ đạo của bạn nếu bạn chưa từng tận dụng hết khả năng sức lực của bạn để mang đến đó một cái gì của chính bạn”. Kinh-thánh ví Kitô hữu như là những viên gạch sống động, phải cùng nhau làm nên Thân thể của Chúa Kitô. Giáo-hội không phải nhà tiền chế, nhưng là nối lại từng viên gạch một, là mỗi người chúng ta, và tất cả chúng ta có bổn phận phải làm nên đền thờ sống động để Thiên Chúa cư ngụ.  Khi đưa ra lời dạy nầy, Giáo-hội tiếp nối truyền thống của các cộng đồng tiên khởi, trong đó các chủ chăn “bằng phép tắc và lời khuyên bảo, dạy dân chúng tham dự họp mặt và không bao giờ bỏ vắng”; các vị mời gọi họ phải luôn có mặt, để, đừng vì sự bê trễ của họ mà Giáo-hội sút giảm và thân thể Chúa Kitô bị thiếu đi một chi thể của mình.

“Giá trị của một Giáo-hội không dựa vào con số người gia nhập, dù là những người siêng năng giữ đạo, nhưng ở tại chứng tá Tin-mừng mà các cộng đoàn kết hợp nơi Giáo-hội ấy thực hiện” Giám mục Gérard Huyghe – chungnhanduckito.net