Ba loại người

1052

Hồi đó có một vị linh mục sắp về hưu, và ngài muốn xây dựng cho mình một ngôi nhà gỗ. Ngài đã thu xếp được một khoảng thời gian rảnh rỗi và vì cũng có chút ít tay nghề, nên ngài quyết định sẽ làm một ngôi nhà đặc biệt. Tuy đã nắm vững hầu hết những công việc phải làm, nhưng vị linh mục gặp một vài rắc rối mà ngài không thể dự kiến được. Ngài không sao ráp cánh cửa vào được, dù đã hết sức xoay xở. Mấy cái bản lề cứ xộc xệch, không chịu khớp vào nhau, lệch lạc, khiến cho vị linh mục phải bực dọc.

Một hôm, có thể nói vị linh mục gần như đã mất cả sự bình tĩnh vốn có của người chủ chăn, ngài tạm nghỉ tay và đi dạo cho thanh thản một lúc.

Vị linh mục lửng thửng tản bộ ngoài đường, và này, kìa, ngài đã nhìn thấy có một ngôi nhà cách đó không xa cũng đang được xây dựng. Một người thợ mộc đang ráp cánh cửa trước, thật là một cơ hội may mắn, thế là vị linh mục đến gần quan sát. Người thợ mộc lấy làm khó chịu khi biết có người đang nhìn mình. Để thoát khỏi tình trạng bực dọc ấy, anh ta lên tiếng: “Tôi có thể giúp gì cho ông được?”

Vị linh mục đáp: “A, xin chào ông bạn, công việc ông bạn đang làm ở đây chính là điều tôi đang cần biết.” Ngài thật thà kể cho người thợ mộc biết vấn đề ngài đang gặp trong lúc làm ngôi nhà của mình, và còn giải thích thêm: “Vì vậy, tôi mới đứng đây quan sát ông bạn làm việc.”

Ánh mắt người thợ mộc ngời lên một thoáng, rồi anh ta nói: “Tôi muốn giao kèo với cha một điều được không?”

“Chuyện gì thế?”

“Tôi vốn là con chiên của cha suốt nhiều năm nay. Chúa Nhật nào tôi cũng đi nhà thờ nghe cha giảng. Bây giờ, tôi đồng ý ráp mọi cánh cửa cho ngôi nhà của cha, nhưng cha phải làm một việc cho tôi.”

Vị linh mục lấy làm lạ, nhưng ngài cảm thấy khoan khoái khi nghĩ đến mọi cánh cửa rồi đây sẽ được ráp đâu vào đó, thế là ngài lập tức đồng ý: “Được, tôi chịu. Nhưng ông bạn muốn tôi làm gì cho ông bạn?”

Người thợ mộc liền nói: “Tôi sẽ ráp mọi cánh cửa vào ngôi nhà cho cha, nhưng cha phải để tôi giảng cho cha một bài. Điều kiện cụ thể như thế này, suốt bao nhiêu năm nay, những khi nghe cha giảng, tôi chưa bao giờ ngắt lời cha. Vậy, bây giờ, cha cũng không được ngắt lời tôi.”

Thật là một điều kiện hết sức kỳ quặc, nhưng vị linh mục vẫn gật đầu chấp thuận. Người thợ mộc lại nói: “Được, nếu như cha đã đồng ý thì chúng ta cứ vậy mà làm!”

Ông mời vị linh mục lên xe rồi lái xuống phố, quẹo trái, quẹo phải, rẽ phải, rẽ trái, cuối cùng, xe dừng lại và người thợ mộc đưa vị linh mục băng qua một khoảng đất khá rộng. Ở đây, có một nền nhà cũ được xây đã mấy năm trước, nhưng chẳng hiểu vì sao, nền nhà vẫn còn nguyên si, um tùm những cỏ dại, gai góc lởm chởm và chai lọ cũ vỡ nằm ngổn ngang. Không biết chủ nhân của ngôi nhà này đã thay đổi ý định hay đã bất ngờ qua đời. Vị linh mục nhìn khoảng đất với cái nền nhà cũ rồi lại nhìn người thợ mộc, nhưng ngài không hỏi một câu nào. Người thợ mộc chỉ nói với vị linh mục vỏn vẹn một câu: “Cha hãy nghĩ về nó.”

Sau đó, hai người cùng lên xe và đến một ngôi nhà khác. Khi vừa xuống khỏi xe, vị linh mục không thể tin vào mắt mình được nữa. Ngài nhìn thấy một ngôi nhà rất xinh đẹp, hoàn chỉnh, ngăn nắp, có vườn tược, có khoảng đất trồng cỏ, có những màn cửa, vật dụng trang trí, mặt tiền, cửa trước, mọi sự đều đâu ra đó. Vị linh mục được mời vào; cửa trước đang mở; ngài liền bước vào và nhìn quanh – hết sức kinh ngạc, trong nhà không có một thứ gì cả, không có trần nhà, không có tường, không có nền, hoàn toàn chỉ có cái mặt tiền. Vị linh mục nhìn người thợ mộc đầy kinh ngạc, nhưng không hỏi một câu nào. Người thợ mộc chỉ nói: “Cha hãy nghĩ về điều đó.”

Như chúng ta đã biết, thời nay cái gì cũng phải đủ ba mới được, thế là người thợ mộc mời vị linh mục lên xe và họ lại tiếp tục đi. Cuối cùng, hai người dừng lại ở một ngôi nhà, rồi xuống xe. Vị linh mục thấy ngôi nhà này không đến nỗi nào, tạm được – cỏ cần phải xén một chút nữa, những cánh cổng cần thêm một nước sơn nữa, vòi nước  hơi rò rỉ, những tấm màn cửa sổ có phần hơi nhăn… Khi đưa vị linh mục vào, người thợ mộc mở cửa ra và lớn tiếng gọi: “Mình ơi, anh về đây.” Lúc đó, một thiếu phụ bước ra, ôm hôn người thợ mộc, và những đứa trẻ con cũng chạy túa ra, reo lên ríu rít: “Ba về, ba về!” rồi sà vào lòng ông, lục túi áo để tìm kẹo. Vị linh mục đứng yên tại ngưỡng cửa. Ngài nhìn thấy một chiếc áo học trò nằm trên nền nhà, một chiếc cặp nằm dưới chân cầu thang – thế nhưng, không có gì đến nỗi tệ lắm. Trong lúc vị linh mục đang quan sát, người thợ mộc lên tiếng: “Ô, tôi xin lỗi, tôi quên mất.” Sau đó, ông lại nói với ngài: “Cha hãy nghĩ về điều này.”

Vị linh mục trở về và suy tư. Chúa Nhật sau đó, vị linh mục đã giảng một bài giảng phải nói là tuyệt vời nhất trong đời của ngài. Ngài giảng về ba thái độ của mỗi người đối với sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô:

Một số người, ngay từ sớm đã xây dựng một nền móng, (có thể gọi đó là giữ đạo trong độ tuổi Rước Lễ lần đầu), nhưng sau đó, họ chẳng làm gì hơn nữa. Tôi có biết một người vẫn máy móc xưng tội không vâng lời cha mẹ – mặc dù cha mẹ ông ấy đã qua đời từ lâu lắm rồi. Tôi có một ông chú ngày nào cũng tha thiết cầu xin cho khỏi đau răng, mặc dù răng ông ấy đã rụng hết, không còn một chiếc.

Loại thứ hai là thứ người chỉ làm các công việc bề ngoài, các việc hào nhoáng, hoàn toàn hình thức: bao giờ họ cũng ngồi hàng ghế đầu, tham dự đủ các tuần cửu nhật và các buổi hội họp, v.v., nhưng trong tâm hồn chẳng có gì, trống trơn, rỗng tuếch, không có lòng trông cậy Chúa, họ ganh ghét, giận dữ, chẳng kết hợp với Thiên Chúa, họ sống hoàn toàn hình thức bề ngoài.

Và loại thứ ba – tôi muốn nói đến là các bạn và tôi: đôi khi chúng ta cần thêm một nước sơn, cần sửa chữa chỗ này chỗ khác, cần chỉnh đốn đời sống cho ngay thẳng hơn, nhất là chúng ta phải có nhiều tình yêu hơn nữa.