Thích nghe lời xu nịnh

1074

Ngày xưa, có một vị vua thích ăn mặc đồ mới và thật đẹp. Ngài đã tiêu phí gần hết tiền kho, mà cũng chưa thỏa lòng.

Bất cứ việc gì, đi săn hay đi hội, đi xem hát hay đi ra ngoài hóng mát, thảy đều là cơ hội để nhà vua khoe áo mới. Mỗi lần đi ra ngoài là đã mặc một bộ đồ mới và trong một ngày không biết mấy lần nhà vua đổi áo…

Ngày kia, có hai tên “bợm”, xưng mình là tay thợ dệt tài hoa nhất trên thế gian, dệt được một thứ lụa đã chẳng những tuyệt đẹp lại còn có cái đặc tính này là những kẻ “ngu” cũng như những người không làm tròn bổn phận sẽ không bao giờ nhìn thấy nó. Nhà vua nghe nói rất mừng. Hay lắm. Có thứ áo lạ lùng ấy ta sẽ có thể phân biệt được ai là người trí, ai là kẻ ngu, ai là người làm tròn bổn phận, ai là người trốn phận sự của mình.

Liền đó nhà vua truyền gọi hai tên “bợm” ấy vào đền, ban cho số bạc lớn, bảo phải khởi công lập tức.

Về nhà hai tên “bợm” cho giàn hai khung dệt, rổi giả bộ làm lia không nghỉ, nhưng nào có một sợi tơ sợi chỉ gì trong ống chỉ đâu. Lụa thật nhuyễn, chỉ bằng vàng y của nhà vua ban chúng đều cho vào bao cất kín.

(Nhà vua nghĩ nên sai vị lão thần thông minh nhất trong quần thần đến xem lụa)

Nhà vua nóng lòng, muốn xem thử công việc dệt lụa đã đến đâu… Nhưng, nhớ lại rằng thứ lụa thần bí ấy sẽ biến mất trước con mắt của bọn ngu, nhà vua hơi lo ngại. Dù nhà vua vẫn tin mình là bậc thông minh hơn hết trên đời, cũng hơi lo ngại. Tốt hơn là sai kẻ khác đến xem thế Ngài có phải tiện không. Trong nước ai ai cũng trông cho mau rồi bộ áo huyền bí ấy để thử xem chung quanh mình ai là thằng ngu.

Nhà vua nghĩ nên sai vị lão thần thông minh nhất trong quần thần đến xem lụa ấy là phải nhất, vì ngoài sự thông minh của ông, ông ấy lại là người rất lo tròn bổn phận của mình hơn ai hết. Vị lão thần này, từ trên xuống dưới cũng như từ trong ra ngoài lê thứ đều biết là bậc quân tử hết sức chân thật.

Tin nơi óc thông minh, nơi đức hạnh của mình, vị lão thần lãnh mạng ra đi, vào thẳng phòng riêng các anh thợ dệt. “Ôi ! đại từ bi ôi ! Sao mà tao chả thấy gì cả kìa !”. Ông nghĩ như vậy, nhưng không tiện nói ra. Ông cố gắng mở rộng đôi mắt, nhưng rồi cũng chẳng thấy gì cả. Ông lại tự hỏi:  trời ơi ! lẽ nào tôi là một đứa ngu… tôi đã trốn tránh đánh lừa phận sự hay sao ?

Hai tên “bợm” thấy vị lão thần đến nhìn mà không nghe nói gì cả bèn mời ông đến gần hơn để nhìn tường tận khúc lụa đang dệt. Nhưng vị lão thần vẫn không thấy gì cả. Ông đã bắt đầu nghi ngờ nơi sự phán đoán của mình và của tất cả mọi người xung quanh. Rất có thể mình tưởng mình là thông minh mà thật sự mình ngu. Cóthể lắm . Ong đang suy nghĩ miên man thì tên “bợm” hỏi dồn:

– Thưa Ngài, Ngài nghĩ sao về tấm lụa này ?

– Đẹp lắm. Tôi sẽ về tâu lại với hoàng thượng .

Lão thần vừa nói vừa sửa gọng kính mắt lại, và lóng tai nghe hai tên”bợm” cắt  nghĩa chỗ nào đẹp chỗ nào khéo để về thuật lại cho Vua nghe.

Vua nghe phúc trình vị lão thần bèn sai thêm một vị quan cận thần khác cũng có tiếng là thông minh liêm chính. Cùng một số phận như vị lão thần, ông này cũng chẳng nhận thấy gì cả. Hai tên “bợm” cũng lăng xăng chỉ chỗ này chỉ chỗ kia và cắt nghĩa lung tung. Vị quan này ngẫm nghĩ: hay là ta ngu mà không biết. Có lẽ vì nhiều khi ta giả vờ thông minh mà kỳ thật ta có hiểu biết gì nhiều đâu. Thiên hạ cho ta là trí thì ta cứ nhận bừa đi, chả lẽ cãi lại, trong thâm tâm đủ biết mình không thông minh vẫn muốn thiên hạ đừng chê mình là ngu, có khi lại muốn lòe thiên hạ là khác. Đích thị là mình ngu, nên không làm sao thấy được bức lụa huyền bí này. Thôi, bây giờ cứ giả vờ là thấy, kẻo chung quanh họ biết mình là ngu thì khốn. Rồi quan khen đáo khen để, trở về tâu với nhà vua không còn vật nào trong đời sánh kịp.

Vua bấy giờ yên lòng, muốn thân hành đến xem tấm lụa. Vua ra đi với các cận thần.

Hai tên “bợm” thấy vua đến… bèn ra tận ngoài đón rước… Quái lạ thay ! hai tên thợ tay làm không nghỉ, vậy một tấm lụa mầu sang vẫn không thấy hiện lên. Đức vua cùng quần thần đều ngạc nhiên hết sức, nhưng rồi ai ai cũng nghĩ: phải chăng mình chưa phải là người thông minh và xét cho kỹ hàng ngày mình vẫn nhiều khi không lo tròn bổn phận, lười biếng, bê tha, … Nguy rồi ! nhưng nên cố gắng trấn tĩnh tinh thần, kẻo chung quanh thiên hạ họ biết mình là ngu. Vua gật đầu khen và hứa với hai tên “bợm” sẽ gia ân trọng thưởng. Cả triều thần, cùng một cảm nghĩ xầm xì bàn tán với nhau và khen tặng bức lụa “vô hình” không hết lời.

Đến ngày đại lễ, vua cùng quần thần đến. Hai tên “bợm” quỳ dâng lên nhà vua áo quần vừa may xong. Hai bợm ta nói: Lụa này rất nhẹ như hơi gió, mặc nó vào mình nhẹ nhàng đến nỗi mình tưởng chừng như không có mặc áo mặc quần gì cả. Các quan đều rập tâu: thật chí lý ! thật chí lý ! Lụa này nhẹ làm sao ! rồi cùng nhìn nhau, bỡ ngỡ… nhưng ai ai cũng làm ra vẻ mình không phải là đồ ngu.

Hai bợm bước đến bên vua, tâu:

– Xin thánh thượng cho phép hạ thần thay áo thay quần mới vào.

Vua để cho hai têm “bợm” cởi hết y phục chỉ còn giữ  lại cá áo lót mồ hôi và cái quần lồng mà thôi. Chúng khéo làm cách điệu như thật, ai cũng tưởng có thật bộ đồ mới mà chúng trân trọng mặc cho vua.

Vua tỏ vẻ đắc ý, ngắm nghía một hồi lâu trước tấm gương. Các quan rập nhau khen tặng không ngớt lời.

Quan hành lễ bước vào tâu vua rằng đai kiệu đã sẵn sàng đang chờ trước cửa.

Trước khi bước ra, vua còn ngó lại trong gương và làm bộ xăm mình trong bộ quần áo đẹp quí nhất trần gian.

Các quan hầu nâng vạt áo “vô hình” theo sau, còn vua thi bệ vệ oai nghi đi dưới đài… Hai bên đường thiên hạ chen nhau trùng trùng điệp điệp để xem nhà vua trong bộ áo quần mà họ đã nghe đồn từ lâu. Nhưng lạ thay, nào có ai hì thấy gì… chỉ thấy vua trong bộ áo lót mồ hôi với một cái quần lồng… rất là dị hợm. Không ai dám cười, dám nói lên sự thật, người này nhìn người kia không dám hở môi, rủi ra người chung quanh biết mình là ngu thì sao ! Rồi không hẹn mà người nào cũng như người nào đều xầm xì với nhau: chà ! áo đẹp quá cỡ. Thật, từ trước đến giờ chưa từng có lúc nào áo mới đức Hoàng Thượng được người dân ca ngợi đến thế.

Nhưng, dường như không hẹn mà nên, tất cả đều lặng lẽ, không ai nói với ai nữa, có lẽ họ đã bắt đầu suy nghĩ… thì bỗng một tiếng con trẻ vang lên với một tiếng cười giòn dã:

– Vua đâu có mặc áo tốt gì đâu ?

Người cha đứa trẻ, thở ra cái phào:

– Thánh Thần Tiên Phật ôi ! hãy nghe  đây cái tiếng nói của sự ngây thơ thành thật,

Khác nào tiếng sấm đêm đông, tất cả đều lặp lại lời nói của đứa trẻ: vua đâu có mặc áo quần mới gì đâu !

Nhà vua nghe nói, giật nảy người … mồ hôi ướt đầm, tự nhủ. Có lẽ đúng như vậy ! Nhưng mà phải cố trấn tĩnh, đừng để ai thấy sự lúng túng của ta.

Vua làm ra vẻ bệ vệ oai nghi, trang trọng hơn trước, đi thật mau trở về đền, theo sau một đám quan hầu cung kính nâng vạt áo “vô hình”.

Phỏng theo Andersen

Câu chuyện viết cho trẻ con, nhưng đối với người lớn, thật là thâm trầm đáo để. Muốn biết được sự thật, con người cần phải trở về với “cái tâm của trẻ con” (xích tử chi tâm). Có thể nói: hai tên “bợm” đây quả là hai bậc thánh nhân muốn trào lộng dạy đời….

Hai tên thợ dệt này bị gán là “bợm” vì nó lừa dối người … Nhưng từ vua quan đến lê thứ, tất cả đều dối mình dối người… thì sao ?

Chẳng phải chỉ có nhà vua là đóng vai “hề” mà tất cả đều trở thành lố bịch: ham khen sợ chê đã đến mức khá khôi hài. Thảo nào Pascal không bảo: dư luận  là chúa tể loài người.

Biết bao kẻ không bao giờ dám nghĩ theo mình và suốt đời chỉ lăm le lăm lét nhìn kẻ chung quanh, vỗ tay khi nghe kẻ khác vỗ tay, nguyền rủa khi nghe kẻ khác nguyền rủa… Họ có mắt, có tai, có miệng… nhưng có mắt mà không dám nhìn theo mình, chỉ nhìn theo cái nhìn thiên hạ, có tai mà chẳng dám nghe theo cái nghe của mình, mà chỉ nghe theo cái nghe của người khác: có miệng mà chẳng dám nói theo mình mà chỉ nói theo cái thiên hạ đã nói.

Trang Tử nói: hạng ta gọi là thông tai không phải là thông tai nghe rõ cái ngoài mình đâu, mà là thông tai nghe rõ nơi lòng mình. Hạng ta gọi là sáng mắt không phải là hạng sáng mắt thấy rõ cái bên ngoài mình đâu, mà là hạng sáng mắt thấy rõ cái bên trong của lòng mình, chẳng đắc cái “sở đắc” của mình, mà đắc cái “sở đắc” của kẻ khác, không thích cái “sở thích” của mình mà thích cái “sở thích” của kẻ khác… đều là hạng ngu si mê muội cả.