Biết thì sống

1042

Trang tử cùng đệ tử đi chơi núi.

Thấy một cây to, cành lá rườm rà. Một thợ rừng đứng bên nó mà không đốn. Hỏi tại sao, nó nói: Không dùng đặng nó chút nào hết. Trang Tử nói: “Cây này vì bất tài mà đặng sống lâu.

Ra khỏi núi, Trang tử ghé nhà người quen. Chủ nhà mừng rỡ hối trẻ làm thịt chim mồng để nấu ăn. Thằng nhỏ thưa: “Có một con biết gáy, một con không biết gáy, giết con nào? Chủ nhà nói: “Giết con không biết gáy.”

Hôm sau đệ tử hỏi Trang Tử: “hôm qua cái cây trong núi vì bất tài mà sống, còn chim mòng vì bất tài mà chết. Giá như thầy, thầy sẽ xử trí như thế nào?

Trang Tử cười nói: Tài và bất tài cũng như nhau, đều là quấy cả, nên không thể tránh khỏi luỵ thân … Chỉ có kẻ nào biết.. Là sống mà thôi. “

(Trang Tử)

Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giêsu rằng: «Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?» (11) Người đáp: «Bởi vì anh em được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. (12) Ai đã có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất. (13) Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu. (14) Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; (15) vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành.Mt 13,1-23

Như vậy, những người không được «ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời» mà họ không hiểu, thì phải chăng họ không có lỗi? – Thật ra họ có được ơn hiểu biết hay không, điều đó tùy thuộc vào việc họ có khiêm cung hay không trong những hiểu biết của họ. Những ai tự hào mình biết tất cả, không cần phải nghe hay học hỏi ai nữa – chẳng hạn các kinh sư, luật sĩ, biệt phái thời của Ngài – thì Ngài càng nói rõ, họ càng không chấp nhận, và càng muốn mưu toan hại Ngài hơn. Thật vậy, họ đã dựa vào những sự thật Ngài nói ra để kết án tử hình Ngài. Vì thế, chính Đức Giêsu cũng khuyên các môn đệ đừng nói chân lý với những kẻ không xứng đáng: «Của thánh, đừng quăng cho chó; ngọc trai, chớ liệng cho heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi còn quay lại cắn xé anh em» (Mt 7,6).

Để lãnh hội được chân lý về Thiên Chúa, về Nước Trời, phải có tâm cầu đạo. Ai đã có tâm cầu đạo, thì đã ít nhiều có đạo tâm rồi, đã hiểu được lẽ đạo là phải «từ bỏ mình», coi nhẹ «cái tôi» của mình, không tự mãn hay cậy vào những hiểu biết cũ của mình, và thật sự sống những gì họ biết về Thiên Chúa, cho dù còn ít ỏi. Nhờ dấn thân sống những hiểu biết dù ít ỏi đó, họ bắt đầu có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Càng kinh nghiệm về Thiên Chúa, họ càng có đạo tâm nhiều hơn. Còn kẻ không có tâm cầu đạo, là kẻ chưa có đạo tâm, nên luôn tự hào về «cái tôi» của mình, về những điều mình đã học biết về Thiên Chúa, không thể sống đạo thật sự vì chưa từ bỏ mình, do đó không thể có kinh nghiệm về Thiên Chúa. Và nếu cứ cậy vào những hiểu biết mà họ tự mãn, họ sẽ ngày càng hiểu sai về đạo, và xa cách Thiên Chúa, cho dù bên ngoài họ có vẻ như rất gần Ngài. Đó chính là ý nghĩa của câu «Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất» (Mt 13,12).

Người học biết nhiều về Thiên Chúa khác với người có kinh nghiệm về Ngài. Biết nhiều về Thiên Chúa giống như người có một bản đồ thành phố trong tay và thuộc kỹ tấm bản đồ đó, nhưng vì tự mãn lấy thế làm đủ, nên chưa hề dấn thân ra đi đến thành phố ấy. Còn người có kinh nghiệm về Ngài giống như người đã thật sự đi trên những con đường của thành phố, được ngắm tận mắt những cảnh trí trong thành phố.

Hai cách tiếp cận ấy rất khác nhau và đi đến những hệ quả khác nhau. Người hiểu biết nhiều thì hay tự mãn, tự đặt mình trên người khác, từ đó thích củng cố quyền uy, ham được ca tụng, và Lời Chúa bị chết ngạt trong họ. Còn người có kinh nghiệm về Thiên Chúa thì ngày càng giống Thiên Chúa, sống quên mình, phục vụ, khiêm nhu, và Lời Chúa sinh hoa kết trái trong họ. Nhìn lại lịch sử, ta thấy các kinh sư Do Thái đều là những bậc thầy về tôn giáo, rất thông thạo những lời tiên tri về Đấng Cứu Thế. Nhưng mỉa mai thay khi Đấng Cứu Thế đến, họ không nhận ra Ngài, thậm chí còn giết Ngài nữa. Lý thuyết về Đấng Cứu Thế mà họ rất tinh thông, trong thực tế, chẳng ích lợi gì cho họ mà còn cản trở họ nhận ra Ngài. Chính vì họ quá tự mãn, cố chấp vào lý thuyết ấy, dùng nó như một phương tiện để thăng tiến bản thân trong tôn giáo hơn là để dấn thân sống theo nó. Còn các môn đệ và một số dân chúng, chẳng biết nhiều về Đấng Cứu Thế, nhưng lạ thay, khi Ngài đến, họ nhận ra Ngài, theo Ngài, và được cứu rỗi, chính vì họ khiêm tốn, đơn sơ và chân thành. Họ là người được Thiên Chúa chúc phúc.