Lời lãi cả thế giới

551

Theo thống kê của chính phủ Nhật, năm 2014, trên đất nước này có tổng cộng 250 nghìn người tự sát, tức là trung bình, cứ mỗi ngày ở Nhật lại có 70 người tự tìm đến cái chết, con số này đã gây chấn động vì cao hơn hẳn ở các nước phát triển khác trên thế giới. Đáng kể hơn, hành vi tự sát lại là con đường dẫn đến cái chết được các thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10-19 tuổi ở nước này ưa chuộng nhất. Trong cuốn sách “Sổ tay tự tử toàn tập”, tác giả Wataru Tsurumi thậm chí đã viết: “Tự tử là một phần văn hóa Nhật Bản”. 
Tỉ lệ tự tử của người Nhật và sự phát triển kinh tế có quan hệ mật thiết với nhau, hay nói cách khác là tình hình kinh tế của Nhật có tác động lớn đến sự sống còn của người dân. 
Các công ty ở Nhật thường ký hợp đồng dài hạn hoặc vô thời hạn với nhân viên của mình. Người Nhật luôn cố gắng cống hiến hết sức cho công ty mà mình đang làm việc, thậm chí là “bán mạng” cho công ty, vì vậy, đối với họ, mất việc hoặc phá sản chẳng khác nào mất đi chỗ gửi gắm sinh mệnh. Đó là đòn chí mạng dành cho những con người hết mình vì công việc và cũng chính là một trong những nguyên nhân lớn khiến cho nhiều người phải tự tử.

Có một lý tưởng để đeo đuổi, có một hướng đi cho cuộc đời: đó là nguồn hạnh phúc lớn lao cho con người.
Thông thường, những kẻ than thân trách phận, những con người bất mãn trong cuộc sống, những kẻ chán đời, không phải là những kẻ nghèo khổ, những người kiếm cơm kiếm gạo từng ngày, mà chính là những con người dư giả, giàu sang.
Thi sĩ Anh, Lord Byron, mặc dù sống trên nhung lụa, vẫn than thở: “Sâu bọ, ruồi nhặng, khổ đau là thức ăn hàng ngày của tôi”. Văn sĩ nổi tiếng của Pháp là Voltaire, mặc dù có một đời sống phú túc và danh tiếng vẻ vang, vẫn phải thốt lên: “Tận cùng của cuộc sống ấy là buồn thảm, khoảng giữa của cuộc sống là vô nghĩa và khởi đầu của cuộc sống ấy là thôi bỉ… Phải chi tôi đừng sinh ra thì hơn”.
Talleyrand, một nhà chính trị nổi tiếng của Pháp vào thế kỷ thứ 19, sau một quãng đời sống trong nhung lụa và vinh quang, đã ghi lại trong tập nhất ký của mình nhân ngày sinh 83 như sau: “83 năm của đời tôi đã đi qua, không để lại một kết quả nào khác hơn là mệt mỏi, trong thể xác lẫn tâm hồn, một nỗi đắng cay khi nhìn về tương lai và chán chường khi nìn lại quá khứ”.
Tại sao những con người trên đây đã tỏ ra đắng cay và thất vọng về cuộc sống? Thưa là bởi vì họ đã không tìm ra mục đích của cuộc đời. Một cuộc đời không có mục đích thì chẳng khác nào một công trình xây dựng không đồ án. Với tất cả mọi vật liệu, nhưng nếu không có đồ án, người ta không thể kiến thiết được bất cứ công trình nào.
Một cuộc sống không có mục đích, một cuộc sống không có lý tưởng thường cũng chỉ kéo theo cay đắng, buồn sầu, bất mãn… Chúa Giêsu đã chẳng nói với chúng ta: “Lời lãi cả thế gian để làm gì, nếu để mất linh hồn?”.
Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khổ, phúc cho những ai hiền lành, phúc cho những ai khóc lóc, phúc cho những ai đói khát công chính, phúc cho những ai có lòng xót thương phúc cho những ai có lòng trong sạch, phúc cho những ai kiến tạo hoà bình, phúc cho những ai bị bách hại vì Nước Trời… Trước khi công bố Hiến chương của hạnh phúc ấy, Chúa Giêsu hẳn phải là con người hạnh phúc. Hạnh phúc đối với Chúa Giêsu không có nghĩa là không có nước mắt và đau khổ. Hạnh phúc đối với Chúa Giêsu không có nghĩa là được mọi may mắn trên cõi đời này. Hạnh phúc đối với Chúa Giêsu không có nghĩa là thành công trong cuộc sống này.
Ngài đã sống như một con người đau khổ. Ngài đã không trốn chạy khỏi đau khổ. Ngài đã không cất lấy đau khổ khỏi cuộc đời này. Hạnh phúc của ngài chính là tiếp nhận đau khổ, là đi vào cõi chết, nhưng không tiếp nhận đau khổ và đi vào cõi chết như một ngõ cụt, trái lại khai thông con đường dẫn đến sự sống. Cuộc đời đã có một hướng đi. Cuộc đời đã có một ý nghĩa, và đó chính là nguồn hạnh phúc đích thực của con người.