Tự do

995

Chỉ có tự do khi có mục đích. St. Exupéry.

Tôi gieo một hạt giống vào lòng đất, rồi bỏ mặc nó, nó chẳng mọc; nó dùng “tự do” của nó để làm gì?… Tôi cởi dây buộc cho con chiên, nó vẫn đứng lỳ tại chỗ; trả tự do cho nó có ích gì đâu?…Mọi tạo vật được tự do là để hướng tới một mục đích: cây sẽ mọc lên, con chiên tìm mẹ hay trở về đàn…

Con người được dựng nên tự do là để trưởng thành, gia tăng năng lực nhận biết và yêu mến Thiên Chúa cùng tha nhân. Và để làm cho lớn mạnh nữa: để cao vũ trụ, nối kết loài người lại với nhau, mở rộng vương quyền Chúa Kitô trên tạo vật… Một bạn trẻ nói: “Tôi muốn cha mẹ tôi để cho tôi tự do hơn”. Được thôi, nhưng tự do để đi đâu? để làm gì? có thật là nên người tốt hơn hay làm cho người khác tốt hơn chăng?

Lạy Chúa, con chỉ muốn dùng tự do để nên trưởng thành và làm cho người khác trưởng thành mà thôi.

Trong cuộc hành trình tiến sâu vào mầu nhiệm Thiên Chúa là Ðấng Quan Phòng, chúng ta thường đụng phải vấn nạn này: nếu Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mọi sự thì con người có tự do thế nào được? Tự do của con người trước hết mang một ý nghĩa và tác hành ra sao? Theo ý nghĩa của Việc Quan Phòng thần linh, chúng ta phải hiểu thế nào về hoa trái xấu xa của tội lỗi phát hiện từ việc lạm dụng tự do?

Chúng ta hãy lập lại lời tuyên xưng long trọng của Công Ðồng Chung Vaticanô I: “Tất cả mọi sự Thiên Chúa đã dựng nên thì Ngài bảo tồn và điều khiển bằng Việc Quan Phòng của Ngài ‘một cách quyền năng cho đến tận biên cương bờ cõi và quản trị tất cả mọi sự đâu vào đó” (x.Wis.8:1). ‘Tất cả mọi sự phơi bầy và hiện lộ trước mắt của Ngài’ (x.Heb.4:13), ngay cả những gì sẽ xẩy ra bởi việc khơi động tự do nơi tạo vật” (DS 3003).

Mầu nhiệm của Việc Quan Phòng thần linh đã được in sâu vào toàn thể công cuộc tạo dựng. Với tư cách biểu hiện cho sự khôn ngoan đời đời của Thiên Chúa, dự án Quan Phòng có trước công cuộc tạo dựng. Với tư cách biểu hiện cho quyền năng hằng hữu của Ngài, Việc Quan Phòng này chi phối công cuộc tạo dựng và làm cho công cuộc tạo dựng hiệu thành. Theo một ý nghĩa nào đó, có thể nói rằng, Việc Quan Phòng được hiện thực nơi công cuộc tạo dựng. Việc Quan Phòng này là một Việc Quan Phòng siêu việt, đồng thời cũng có sẵn nơi các sự vật, nơi tất cả mọi sự. Theo bản văn của Công Ðồng chúng ta vừa đọc, điều này đặc biệt đúng trong trường hợp của tạo vật được ban cho minh trí và ý muốn tự do.

Trong khi dung hòa “một cách quyền năng và đặt định đâu vào đó” toàn thể tạo thành, thì Việc Quan Phòng lại đặc biệt ôm ấp những thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh và tương tự như Thiên Chúa. Họ tham hưởng, nhờ niềm tự do được Tạo Hóa ban cho, “việc tự lập của các hữu thể tạo thành”, hiểu theo ý nghĩa của Công Ðồng Chung Vaticanô II (x.Hiến Chế Gaudium et Spes, đoạn 36). Các hữu thể được tạo dựng có bản tính thuần linh cũng bao gồm trong khối những tạo vật này. Chúng ta sẽ nói về các vị này sau. Các vị làm nên thế giới vô hình. Trong thế giới hữu hình, con người là đối tượng được Việc Quan Phòng thần linh đặc biệt chú trọng. Theo giáo huấn của Công Ðồng Chung Vaticanô II thì con người “là tạo vật duy nhất trên thế gian này được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ” (Hiến Chế Gaudium et Spes, đoạn 24), và cũng chính vì lý do này mà “con người� không thể nào hoàn toàn tìm thấy chính mình trừ phi ban tặng bản thân mình” (cùng đoạn trên).

Sự kiện thế giới hữu hình được vinh vang bởi việc con người tạo thành đã mở ra trước mắt chúng ta những nhãn quan hoàn toàn mới mẻ về mầu nhiệm của Việc Quan Phòng thần linh. Nhãn quan hoàn toàn mới mẻ này được đề cập đến nơi câu tuyên ngôn tín lý của Công Ðồng Chung Vaticanô I, ở cho, câu này nhấn mạnh đến trường hợp, trước con mắt khôn ngoan và hiểu biết thần linh, tất cả mọi sự đều được phơi “trần ra” (“mở ra”), và trần trụi, ở một nghĩa nào đó – cho dù loài tạo vật có lý trí tác hành theo tự do của mình. Ðiều này bao gồm những gì gây ra bởi việc chọn lựa có ý thức và bởi việc quyết định tự do của bản vị con người. Ngay cả về lãnh vực này, Việc Quan Phòng thần linh cũng vẫn đóng vai trò là nguyên nhân sáng tạo và điều hành theo thượng quyền của mình. Thượng quyền này là một thượng quyền siêu việt của Sự Khôn Ngoan yêu thương, và bởi yêu thương đã tác hành một cách mãnh liệt và từ ái. Việc Quan Phòng này là một Việc Quan Phòng quan tâm bằng tình phụ tử, một Việc Quan Phòng rất sâu xa nơi tạo vật song vẫn tôn trọng tự do của tạo vật, trong việc hướng dẫn, đỡ nâng và dìu dắt tạo vật của mình đến đích điểm của chúng.

Ở nơi điểm gặp gỡ này, giữa dự án sáng tạo hằng hữu của Thiên Chúa với niềm tự do của con người, bừng lên một mầu nhiệm không thể hồ nghi, vừa khôn thấu, vừa đáng tôn thờ. Mầu nhiệm này là ở mối liên hệ thâm sâu, trước hết về siêu hình rồi đến tâm lý, giữa tác động thần linh và việc con người tự quyết. Chúng ta biết rằng, việc tự do quyết định này liên quan đến sinh hoạt tự nhiên của loài tạo vật có lý trí. Theo kinh nghiệm, chúng ta cũng biết đến sự kiện về niềm tự do của con người, một tự do đích thực, cho dù nó có bị thương tích và yếu đuối. Về vấn đề liên hệ giữa niềm tự do này của con người với nguyên nhân thần linh, tốt nhất là nhắc lại việc Thánh Tôma Aquinô nhấn mạnh đến ý niệm về Việc Quan Phòng như là một thể hiện của Sự Khôn Ngoan thần linh trong việc sắp xếp sao cho tất cả mọi sự đạt đến đích điểm xứng hợp của chúng: ratio ordinis rerum in finem, “việc sắp xếp hợp lý cho các sự vật hướng về đích điểm của chúng” (x. Summa Theol., I, 22, 2). Tất cả những gì Thiên Chúa tạo thành đều có cùng đích này, và vì thế đã trở nên đối tượng của Việc Quan Phòng thần linh (x.Summa Theol., I, 22, 2). Nơi con người – là loài được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa – toàn thể tạo vật hữu hình phải được kéo đến gần Thiên Chúa, tìm thấy ở nơi họ, một lần nữa, đường lối của tình trạng vẹn toàn cuối cùng của mình. Tư tưởng này là một trong những tư tưởng khác đã được Thánh Irênêô nói đến (Adv. Haer., 4, 38; 1105-1109). Nó được vang vọng nơi giáo huấn của Công Ðồng Chung Vaticanô II về công cuộc phát triển thế giới nhờ việc làm của nhân loại (x.Hiến Chế Gaudium et Spes, đoạn 7). Con người được kêu gọi để thực hiện trên thế giới một cuộc phát triển thực sự. Việc phát triển này phải có một đặc tính không phải chỉ thuần “kỹ thuật”, mà nhất là phải “đạo đức”, để làm cho vương quốc của Thiên Chúa trị đến trong thế giới tạo sinh (x. Hiến Chế Gaudium et Spes, đoạn 35, 43, 57, 62).