Tin vào ai

400

Volney, người không tin Thiên Chúa vào thế kỷ XVII đi tàu biển từ Havre sang New York trong một ngày đẹp trời lắm. Đứng trên cầu tàu, ông đã làm cho nhiều người khó chịu vì những câu cô đạo của ông. Chẳng bao lâu gió thổi nhiều, biển động dữ và con tàu có thể sẽ chìm. Volney âm thầm xuống gầm tàu run cầm cập, nói với một Tu sĩ ông gặp ở đấy cho mình mượn chuỗi hột, rồi ông hết sức sốt sắng đọc lại những kinh hồi còn nhỏ ông học được ở gia đình. Khi phong ba đã qua rồi, các bạn đi tìm ông và chế diễu, nhắc lại các lỗi của ông trước khi bão. Ông trả lời họ: Người ta chỉ không tin lúc ngồi bên cạnh cái lò sưởi êm ấm thôi. Nhưng khi sấm sét ầm ĩ, bệnh nan kịch liệt, thì người ta sẽ hối hận và thật tâm tin.

Mezeray lúc ốm nặng trên giường bệnh xin trở lại tin vào Chúa. Các bạn nghe tin đến khuyên ông đừng trở lại đạo Công giáo, ông trả lời và bảo họ rằng: các bạn hãy tin tôi, Mezeray lúc sắp chết đáng tin hơn Mezeray lúc khỏe.

Montesquieu nói câu này: Một điều lạ cứu cánh của tín đồ Công giáo là hạnh phúc đời sau, thế mà đạo ấy cũng làm cho các người theo mình được hạnh phúc ở cả đời này nữa.

La Bruyere nói câu này: Tôi muốn được xem thấy một người đứng đắn, trong sạch, công bằng, mà người đó nói rằng không có Thiên Chúa; nhưng người như vậy không thể nào có.

Nói trước những bậc vị vọng trong giới chính trị Hoa Kỳ, ông Jranklinb tuyên bố: Thưa các bạn, tôi đã có tuổi, và càng sống lâu tôi càng xác nhận một điều này, là có Thiên Chúa điều khiển mọi việc trên đời.

Là học trò các cha Dòng Tên nhưng Renan rất ác cảm với đạo Công giáo; song dù ác cảm ông cũng nói: Tôi không phải người Công giáo, song tôi thích có người theo đạo Công giáo, có các bà phước, các Cha xứ, các nữ tu nhà kín…

Nguyên soái Harschmidt diễn thuyết trước đội quân: Thưa các cấp và các anh em, tôn giáo cần kíp lắm; nếu chẳng có tôn giáo, chẳng có tín ngưỡng, thì quân đội tan rã, xã hội sụp đổ và Tổ quốc sẽ chẳng thể đứng vững được.

Mỗi khi khám phá được bút tích gì quí giá, nhà cổ học danh tiếng Champollion thường hay làm dấu Thánh giá.

Từ ngày chính phủ Pháp tuyên bố công khai bỏ đạo, luân lý mỗi ngày mỗi suy đồi và mạng sống con người không bảo đảm. Napoleon quyết lập lại đạo, ông nói: Nếu chẳng có tôn giáo, người ta sẽ bóp cổ nhau vì gái đẹp và vì quả táo ngon.

Nhà Hàn Lâm viện Legouvé nói trắng ra rằng: Nếu phải chọn cho con tôi một trong hai: biết đọc sách hay là biết cầu nguyện, thì tôi trả lời ngay rằng: Biết cầu nguyện.

Nhà triết học Cousin đã thật thà nói ra lời này: là nhà triết học, chúng ta vượt biển vu vơ, liều lĩnh lạc lõng và chìm nghỉm. Còn người Công giáo, họ vượt biển có địa đồ, có ngôi sao, có hoa tiêu và hải cảng nữa.

Hume tiên sinh thách những người vô thần rằng: Các anh em tìm một dân tộc không có tôn giáo; nếu có dân tộc nào như vậy, thì các anh phải tin chắc rằng: dân tộc đó chẳng khác gì xúc vật…

Huấn giáo về sáng tạo có một tầm quan trọng cơ bản, liên quan đến chính nền tảng của đời sống nhân bản và đời sống Ki-tô hữu, vì nêu rõ câu trả lời của đức tin Ki-tô giáo cho câu hỏi căn bản mà con người của mọi thời đại thường đặt ra cho mình:”Chúng ta từ đâu tới?” “Chúng ta đi đâu?” “Nguồn gốc của chúng ta là gì?” “Cùng đích của chúng ta là gì ?” “Mọi vật hiện hữu từ đâu tới và đi về đâu?“. Hai câu hỏi về nguồn gốc và cùng đích không tách rời nhau, chúng có tính cách quyết định đối với ý nghĩa và định hướng cho cuộc sống và hành động của chúng ta.

283 (159 341)  Câu hỏi về nguồn gốc thế giới và con người là đối tuợng của rất nhiều cuộc nghiên cứu khoa học, nhờ đó, chúng ta hiểu biết sâu rộng về độ tuổi và các chiều kích của vũ trụ, về sự biến hóa của các dạng sống, về sự xuất hiện của loài người. Những khám phá này mời gọi chúng ta thêm lòng cảm phục sự cao cả của Ðấng Tạo Hóa, tri ân vì các công trình của Người, vì trí thông minh và khôn ngoan Người ban cho các nhà bác học và các người sưu tầm. Cùng với Sa-lô-mon, họ có thể nói : “Chính Người đã cho tôi hiểu biết đích thực về sự vật, cho tôi biết cấu trúc của thế giới và đặc tính của các yếu tố … Vì chính Ðấng Khôn Ngoan, là tác giả của mọi sự đã dạy tôi” (Kn 7, 17-21).
 
284  Còn một câu hỏi thuộc lãnh vực khác, vượt ngoài phạm vi của khoa học tự nhiên, thúc đẩy mạnh mẽ các cuộc nghiên cứu. Vấn đề không phải chỉ là tìm hiểu vũ trụ xuất hiện khi nào và cách nào, con người có mặt trên trái đất từ bao giờ, nhưng quan trọng chính là khám phá ra ý nghĩa của nguồn gốc đó. Phải chăng nguồn gốc vũ trụ bị điều khiển bởi một sự ngẫu nhiên, một định mệnh mù quáng, một tất yếu vô danh, hay được điều khiển bởi một Ðấng Siêu Việt, thông minh và tốt lành, mà ta gọi là Thiên Chúa. Và nếu thế giới này xuất phát từ sự khôn ngoan và sự tốt lành của Thiên Chúa thì tại sao có sự dữ? Nó tự đâu ra? Ai chịu trách nhiệm ? Có cách nào thoát khỏi sự dữ không?

285 (295 28)  Từ buổi đầu, Ki-tô giáo đã phải đương đầu với những giải đáp khác với đức tin của chính mình về vấn đề nguồn gốc. Người ta gặp trong các tôn giáo và các văn hóa cổ xưa nhiều huyền thoại về vấn đề nguồn gốc. Một số triết gia cho rằng tất cả mọi sự đều là Thiên Chúa, thế giới là Thiên Chúa, hoặc biến hóa của thế giới là biến hóa của Thiên Chúa (thuyết phiếm thần). Người khác cho rằng thế giới là một sự sinh xuất tất yếu của Thiên Chúa, chảy từ nguồn mạch rồi lại trở về đó. Người khác lại khẳng định sự hiện hữu của hai nguyên lý vĩnh tồn, Thiện và Ác, Ánh Sáng và Bóng Tối đấu tranh miên trường, (thuyết nhị nguyên, giáo phái do Manes sáng lập). Theo một vài quan niệm, thế giới (ít nữa là thế giới vật chất) là xấu, sản phẩm của một sự thoái hóa, vì vậy cần phải loại bỏ đi hoặc phải vượt khỏi (thuyết ngộ đạo); quan niệm khác chấp nhận rằng thế giới do Thiên Chúa tạo nên, như một người thợ làm ra một đồng hồ, làm ra rồi bỏ đó (tự nhiên thần giáo).Cuối cùng, có những quan niệm không chấp nhận nguồn gốc siêu việt nào cho thế giới, mà chỉ xem đó hoàn toàn là một chuyển vận của vật chất vẫn có từ muôn thuở (thuyết duy vật). Tất cả những cố gắng đó cho thấy, con người ở đâu cũng như bất cứ thời đại nào, đều thắc mắc về nguồn gốc của vũ trụ và của mình. Chỉ có con người mới khắc khoải truy tìm về cội nguồn như thế .

286 (32 37)  Trí thông minh loài người chắc chắn có khả năng tìm ra câu trả lời cho câu hỏi về nguồn gốc. Con người với ánh sáng của lý trí có thể nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa qua các công trình của Người (x. DS 3026) cho dù sự hiểu biết đó nhiều khi bị lu mờ và lệch lạc vì lầm lẫn. Vì vậy, đức tin giúp xác nhận và soi sáng lý trí, để hiểu biết cách chính xác chân lý này. “Nhờ đức tin chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi một lời của Thiên Chúa; vì thế những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có “(Dt 11, 3).

287 (107)  Chân lý về sáng tạo rất quan trọng cho cuộc sống loài người, đến nỗi Thiên Chúa đã ưu ái mặc khải cho dân Người tất cả những gì cần biết về vấn đề nầy để được cứu độ. Vượt trên những hiểu biết tự nhiên mà con người có thể có được về Ðấng Tạo Hóa, (x. Cv. 17, 24-29; Rm 1, 19-20) Thiên Chúa đã dần dần mặc khải cho It-ra-en mầu nhiệm sáng tạo. Chính Người đã chọn các tổ phụ, đã đưa It-ra-en ra khỏi Ai cập, và khi đã tuyển chọn họ làm dân riêng , Người sáng lập và đào tạo dân nầy (x. Is 43, 1); Người cũng tự mặc khải là Ðấng làm chủ trái đất và muôn dân, là Ðấng duy nhất ” đã dựng nên trời và đất” (Tv 115, 15; 124, 8 ; 134, 3).

288 (280) Như vậy, mặc khải về sáng tạo không tách rời khỏi việc Thiên Chúa duy nhất mặc khải và thực hiện Giao Ước với dân Người. Sáng Tạo được mặc khải như là bước đầu tiên tiến đến Giao Ước, như chứng từ tiên khởi và phổ quát tình thương toàn năng của Thiên Chúa (x. St 15, 5; Gr 33, 19-26). Vì thế, chân lý về sáng tạo được diễn tả ngày một mạnh mẽ hơn trong sứ điệp của các ngôn sứ (x. Is 44, 54), trong lời cầu nguyện của các thánh vịnh (x. Tv 104) và phụng vụ, trong suy tư (x. Cn 8, 22, -31) của dân tuyển chọn về minh triết.

289 (390 111) Trong tất cả những lời Thánh Kinh nói về sáng tạo, ba chương đầu của sách Sáng Thế chiếm địa vị độc tôn. Ðứng về phương diện văn chương, những bản văn đó có thể do nhiều nguồn khác nhau. Các tác giả được linh hứng đã đặt các bản văn này ở đầu Sách Thánh để long trọng diễn tả những chân lý về sáng tạo nguồn gốc và cùng đích của nó trong Thiên Chúa, trật tự và sự tốt lành của nó về ơn gọi của con người, cuối cùng về thảm kịch tội lỗi và niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Những lời này, được đọc dưới ánh sáng của Chúa Ki-tô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong Truyền thống sống động của Hội Thánh, vẫn là nguồn chính yếu cho việc huấn giáo về những mầu nhiệm của”khởi nguyên”: tạo dựng, sa ngã, lời hứa cứu độ.

SHARE
Previous articleGiếng nước cạn khô
Next articleBị nhổ vào mặt