Thăm sư tử bị đau

555

Một con sư tử bị đau. Sư tử là vua loài vật nên các vật đến thăm đức vua đau. Con chồn cũng đều chầu song không vào trong phòng vua. Hỏi tại sao? Nó nói: Tôi thấy ai vào thì không có ra, nên tôi sợ không dám vào. Thì ra con sư tử già bị bệnh đói, không đi kiếm thịt được nên chú vật nào vào thì nó xơi hết không ra khỏi đó được. Con chồn khôn, thấy việc như thế  thì không vào.

Không chắc có việc đó, không chắc con chồn khôn như thế. Nếu có thì thật đáng khen. Chồn xứng đáng làm thầy.

Có biết bao người khờ dại, thấy xe trước gẫy xe sau không biết tránh lại cứ lủi đầu vào.

Lấy chồng lấy vợ bao nhiêu người khuyên bảo không ai tán thành vì là kẻ hư thân, thế mà không nghe cho là duyên số ba bảy hăm mốt ngày ly dị. Rượu chè suốt sáng thâu đêm, bệnh tật chết sớm, thế mà nhiều người vẫn thích lầy trong rượu. Vợ bé, gái điếm ăn hết gia tài sự nghiệp mà nhiều người vẫn theo đuổi. Nghiện ngập trong ma túy gây hại cho mình cho gia đình cho xã hội nhưng lớp lớp người người vẫn cứ lao đầu vào….

Ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách; nhưng ai hành động trong sự thật thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ là họ đã làm trong Thiên Chúa. Ga 3, 14-21

Lịch sử Dân Chúa là một lịch sử của ân sủng và tội lỗi, trung thành và bất tín, đón nhận và từ chối, ánh sáng và bóng đen. Ðó là lịch sử một tình thương hải hà, nhưng vô cùng mầu nhiệm.

Sách Khởi nguyên cho biết con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và sống trong tình thương yêu thân thiện của Người. Nhưng ngay từ những bước đầu, tội lỗi đã xâm nhập vào thế gian. Con người đã phản bội Chúa. Do hành vi phản bội nguyên thủy này, tội lỗi bắt đầu thống trị. Tội phân lìa con người ra khỏi Chúa, đẩy con người xa quỹ đạo sự sống và tình thương, biến cuộc sống con người thành một xung khắc triền miên với bản thân, với anh em và với thế giới. Lịch sử con người trở nên một lịch sử hận thù đầy chém giết, tham lam và tranh chấp.

Bị dục vọng đè nén, con người không làm nổi điều thiện mình muốn, trái lại cứ lao đầu vào hố sâu của tội ác. Tội lỗi mãnh liệt như một quyền lực cứ luôn đè bẹp và cầm tù con người.

Lịch sử con cháu Ađam cho thấy tội lỗi như một vết dầu loang bao trùm cả thế giới và vũ trụ, khiến mỗi người sinh ra trong tội (Tv 51,7). Tội lỗi gieo rắc mầm mống sự chết khắp nơi và biến đổi thế giới sự sống thành thế giới u sầu tang tóc. Nếu chỉ dừng lại ở đây, chúng ta sẽ bi quan và thất vọng. Cuộc đời sẽ hoàn toàn vô nghĩa và con người thà đừng sinh ra thì hơn (Yb 3,1-26).

Quả thật tội lỗi đã khiến hình ảnh Thiên Chúa trong con người bị hoen ố. Con người đánh mất hết những vẻ diễm lệ yêu kiều, trở nên một tạo vật xấu xí trần trụi; thân thể đầm đìa máu me và vết tích. Không ai trong chúng ta có thể tự hào là đáng yêu, vì mỗi người đều đắm chìm trong tội. Nhưng, tình thương của Thiên Chúa thật nhiệm mầu. Người đã yêu thương ta, khi ta còn là những kẻ có tội. Người khiến ta là những kẻ đã chết bởi sa ngã phạm tội, được cùng hồi sinh với Ðức Kitô (Ep 2,5).

Tiên tri Êzêkiel ví Thiên Chúa như một người qua đường thấy dân mình quằn quại trong vũng máu, quyết đưa về tắm rửa và trang điểm, biến thành như một thiếu nữ mỹ miều xinh đẹp (Ez 16,6-14). Thiên Chúa chăm sóc và nuôi dưỡng dân Người. Người để ý từng đường đi nước bước của họ. Người trìu mến như người cha, dỗ dành như người mẹ, âu yếm như người chồng. Nhưng dân Người lại là những kẻ tình nghĩa nhạt như nước ốc, lòng dạ bạc như vôi.

Tiên tri Hôsê ví dân Chúa như một người vợ được chiều chuộng đủ điều, nhưng vẫn quen thói thất trung, thích chạy theo khách mới. Thiên Chúa phải làm mọi cách cho người vợ ấy trở về (Hs 2). Sách Ký sự cho thấy mọi thành phần dân Chúa đều bất tín, từ đầu mục tư tế cho đến thứ dân đã chạy theo những ngẫu tượng của ngoại bang. Họ làm hoen ố đền thờ Chúa và xúc phạm Danh Thánh Người.

Thiên Chúa giàu lòng yêu thương đã sai nhiều sứ giả đến với họ, nhưng họ vẫn giả điếc làm ngơ, và hơn thế nữa, họ còn nhạo báng, hành hạ và giết chết các tiên tri.

Thiên Chúa, dù là Ðấng nhân ái từ bi, đã buộc lòng phải trừng phạt vì chạm trán với lòng con người chai đá. Người cho dân đi lưu đày, mất quê hương, mất đền thờ, mất tất cả, để từ đó họ khám phá lại những hồng ân lớn lao của Thiên Chúa. Và đến ngày đã định, Thiên Chúa lại đưa dân về sau khi thanh luyện họ bằng những biến cố xảy ra trong đời họ.

Thánh Phaolô ý thức sâu xa về thực trạng tội lỗi. Người đã kinh nghiệm về hoạt động của tội trong chính bản thân, trong môi trường người sống và những nơi người đến rao giảng. Về bản thân, người đã thốt lên những lời chua xót:

Tôi thuộc về xác thịt, bị bán làm tôi sự tội (Rm 7,14).

Không phải tôi hành động, nhưng chính là tội lỗi cư ngụ trong tôi (Rm 7,17).

Mọi thứ luật khác chi phối chi thể tôi, giam cầm tôi trong tội (Rm 7,23).

Về nhân loại nói chung, người đưa ra một ý tưởng còn táo bạo hơn nữa.

Thiên Chúa đã đón mọi người vào đàng bất tuân, ngõ hầu dủ lòng thương hết mọi người (Rm 11,32).

Thánh Phaolô thấy rõ tội lỗi của riêng mình và của toàn thể nhân loại, nhưng người cũng nhận thức được tình yêu và thượng trí của Thiên Chúa. O�i thẳm sâu thay sự giàu có, khôn ngoan và thượng trí của Thiên Chúa (Rm 11,33).

Thiên Chúa là Chúa của hồng ân, và “tội lỗi phát sinh càng nhiều, ân sủng càng dồi dào gấp bội” (Rm 5,30).

Chính Ðức Yêsu Kitô là hồng ân trọn vẹn của Thiên Chúa. Người là dấu hiệu của tình thương. Người là chính tình thương sâu thẳm bao la của Thiên Chúa.

Tình thương của Chúa Cha đã nhiều lần trở nên hữu hình trong lịch sử nhân loại. Tình thương đã được tỏ bày nhờ nhiều sứ giả và qua nhiều biến cố. Và cuối cùng, tình thương đã hoàn toàn biểu lộ trong một người, một gương mặt. Ðó là Yêsu Kitô.

“Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình… để thế gian nhờ Người mà được cứu độ…” (Yn 3,16).

“Thiên Chúa đã không dung tha chính Con mình, nhưng lại trao phó Người cho tất cả chúng ta” (Rm 8,32).

Chúa Cha đã biểu lộ tình thương đối với loài người đến mức tối đa trong Ðức Yêsu Kitô, Con của Người. Và chính Ðức Yêsu Kitô cũng đã yêu thương chúng ta đến cùng độ:

“Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người chịu chết vì kẻ mình yêu thương” (Yn 15,13).

Ðức Yêsu chấp nhận chịu treo trên Thập giá để sức mạnh tình yêu có thể kéo mọi người lên với mình, nhưng với điều kiện là con người phải nhìn lên Thập giá và tin vào Người.

Tình thương không bao giờ cưỡng bách, nhưng đòi hỏi một thái độ rõ rệt đón nhận hay khước từ.

Ðức Yêsu Kitô đến, không để luận phạt thế gian, nhưng để cho thế gian được cứu rỗi.

Ai tin, nghĩa là đón nhận tình thương, thì được sống; ai không tin thì tự hủy diệt mình vì đã từ chối sự thật và ánh sáng.

Ðức Yêsu Kitô là dấu chỉ trọn vẹn tình thương của Chúa Cha, nên chỉ một mình Người có quyền đòi hỏi thái độ dứt khoát: “Ai không theo Ta là chống lại Ta”. Ai không chọn yêu thương thì không ở trong Thiên Chúa, nhưng sa lầy trong tội. Ðối với Người, chúng ta không có con đường thứ ba.