Mắt nhìn tai nghe

477

Waker Raleigh, một chính trị gia nổi tiếng nước Anh sưu tầm nhiều tài liệu để viết cuốn “thế giới sử”. Một hôm ông ngồi viết trên lầu, nghe ồn ào ngoài đường dưới nhà ông. Đó là một đám đánh lộn, ông nghe và thấy rõ từng cử chỉ lời nói của các người đánh nhau, trong số đó có một người là bạn thân của ông.

Hôm sau ông gặp người bạn thân ấy, đem câu chuyện ra hỏi thế nào. Người bạn kể lại đầu đuôi câu chuyện thì thấy khác xa những điều ông nghe thấy. Ông Waker liền nghĩ: việc trước mắt mình còn làm như vậy, thì các việc xa xưa mình chỉ nghe lỏm thì làm sao đúng được và ông liền đốt hết tập “Thế giới sử” ông đang viết.

Hay nói bướng, nói càn, thêm rắn, thêm rồng, không nói có, ít nói nhiều, biết bao lầm lạc nhất là khi quyền lợi ích kỷ xen vào. Thật là tai họa.

Đức Giêsu nói: «Thiên Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí». Thần khí (pneuma – esprit – spirit) là tinh thần, tâm linh, thuộc thế giới nội tâm, không thấy được. Thần khí thì ngược với vật chất, thể lý, với những gì thuộc thế giới bên ngoài, cụ thể, thấy được. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa hữu hình, nên việc thờ phượng Thiên Chúa không nhất thiết phải xảy ra ở bên ngoài, trong không gian và thời gian. Theo Đức Giêsu, Thiên Chúa là thần khí, là tinh thần, là thiêng liêng, nên việc thờ phượng Ngài cũng phải thực hiện trong thần khí, trên bình diện tinh thần, nghĩa là một cách thiêng liêng, trong nội tâm con người. Hành vi thờ phượng phải là hành vi của tâm hồn, là thái độ của nội tâm, hơn là hành vi của thể xác.

Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa cứ phải nghe ta nói, nhìn ta biểu lộ ra ngoài mới hiểu được lòng ta. Trái lại, Ngài biết hết, thấu hiểu hết những gì ta nghĩ, ta cần, ta muốn nói: «Cha trên trời thừa biết anh em cần những gì rồi» (Mt 6,32; Lc 12,30). Vì thế, xét về phía Thiên Chúa, việc thờ phượng Ngài không cần thiết phải biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói, bằng lễ nghi, bằng những biểu hiện bên ngoài: «Khi cầu nguyện, anh em đừng nhiều lời như dân ngoại; họ tưởng cứ nói cho nhiều là được nhận lời» (Mt 6,7). Điều Ngài mong muốn – nằm trong thái độ nội tâm của chúng ta – là tinh thần từ bỏ, tự hủy, lòng quảng đại, biết ơn, khâm phục, nhất là tình yêu dành cho Ngài và tha nhân.

Đó là xét về phía Thiên Chúa, nhưng ta cũng cần xét về phía con người. Nếu Giáo Hội chủ trương phải biểu lộ việc thờ phượng ra bên ngoài thì không phải là vì Thiên Chúa mà là vì con người: để việc thờ phượng mang tính cộng đoàn, tính Giáo Hội, hay để biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho con người, v.v…

Ngày nay, theo tinh thần câu nói của Đức Giêsu, con người cần đặt nặng việc thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí hơn việc thờ phượng Thiên Chúa qua những hình thức bên ngoài. Lễ vật dùng để sát tế, để toàn thiêu không còn là chiên, bò, hay bất kỳ một vật nào khác, mà phải là «cái tôi» ích kỷ và kiêu căng của ta, là ý riêng của ta, là những dự định dù tốt hay xấu nhưng không phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Bàn thờ hay đền thờ – nơi sát tế – là chính tâm hồn ta. Thời điểm sát tế không còn là một thời điểm cố định nào do con người qui định, mà phải là thời gian liên tục. Vì sát tế không còn là một hành động xảy ra vào những thời điểm nhất định nào đó, cho bằng một thái độ nội tâm thường hằng trong đời sống ta, thậm chí trở thành một yếu tố cố định trong bản tính của ta. Cầu nguyện cũng không còn là một hành động cho bằng một trạng thái thường hằng của nội tâm. Một biểu hiện lý tưởng của việc thờ phượng trong thần khí đã được Đức Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay: «Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người». Việc quan tâm thi hành thánh ý Thiên Chúa phải thay thế cho việc quan tâm thực hiện ý riêng mình, phải trở thành lương thực nuôi sống đời sống tâm linh của ta.

Nói như trên không có nghĩa là không cần những hình thức thờ phượng bên ngoài. Những hình thức bên ngoài cũng vẫn cần, như cái vỏ trứng cần cho ruột trái trứng. Nếu trái trứng chỉ là cái vỏ rỗng ruột thì nó hầu như không có giá trị gì. Nhưng nếu trái trứng không có vỏ thì sẽ rất mau hư, khó cầm, khó chuyên chở, v.v… Cũng thế, hình thức bên ngoài rất cần để chuyển tải, bảo vệ và duy trì nội dung bên trong. Nhưng nếu không có nội dung bên trong thì hình thức đó hầu như vô giá trị.