Hội Thánh của Chúa

436

* Nhiều người chê cách tổ chức của giáo triều Lamã. Tôi đồng ý rằng giáo triều Lamã không trọn lành, nhưng tôi xin họ xem thử chính nước họ, có hoàn hảo hơn không. Hơn thế, còn phải phân biệt, giáo triều là một cơ quan, không phải là Hội thánh (ĐHV 252).

* Yêu mến Hội thánh, vâng lời Hội thánh, trung thành với Hội thánh và cầu nguyện cho Hội thánh (ĐHV 253).

* Có người nghe nói đến Hội thánh là chỉ trích giáo triều ù lì, nhà thờ tốn tiền, nghi thức rườm rà… Hội thánh đâu phải giáo triều, nhà thờ, nghi thức, hiểu như thế là sai lạc quá! Hội thánh là toàn thể Dân Chúa đang tiến về Nước Trời (ĐHV 24).

Từ ngày thành lập đến nay, Hội thánh hầu như liên lỉ gặp những thử thách bên trong cũng như bên ngoài.

Thử thách bên trong: hết lạc thuyết này đến lạc thuyết khác nổi lên, hết ly giáo này đến ly giáo nọ xuất  hiện:

– Ariô: Năm 321, linh mục Ariô giảng dạy rằng: Chúa Kitô chỉ có một bản tính, là bản tính loài người thôi. Quả là sai lạc! Vì thế, năm 325, Công đồng Nicêa đã được triệu tập và công bố một bản tuyên xưng đức tin khẳng đinh rằng: “Chúa Kitô là Thiên Chúa thật, đồng bản tính (consubstantialis) với Đức Chúa Cha..

– Nestôriô: Là Thượng phụ Giáo chủ thành Constantinôpôli, Nestôriô chủ trương rằng: Đức Giêsu Kitô có hai ngôi vị là ngôi vị Thiên Chúa và ngôi vị loài người, nên Đức Maria chỉ là mẹ của một con người chứ chẳng phải là Mẹ của Thiên Chúa. Vì thế năm 431, một Công đồng chung nhóm họp ở Êphêsô đã cất chức Nestôriô, kết án mười hai luận đề của ông và khẳng định: Maria là Mẹ của Thiên Chứa (Theotokos). Đến ngày 22 tháng 6 năm đó, kinh “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội” ra đời. Công đồng Êphêsô còn khẳng định thêm: Chúa Kitô chỉ có một ngôi vị và hai bản tính.

– Otykô: Chưa hết, một Đan viện ở Constantinôpôli, đối thủ của Nestôriô, lại đi quá trớn mà quả quyết rằng: Ngôi Lời kết hợp chặt chẽ với nhân tính đến nỗi chỉ còn một bản tính duy nhất là Thiên tính thôi, khiến Công đồng Calcêđônia, năm 451, phải tái khẳng đinh: Chúa Kitô có hai bản tính.

– Photius: Nhưng từ đời Thượng phụ Photius (861), do nhiều nguyên nhân tâm lý, địa cư, chính trị, não trạng, Giáo hội Đông và Tây phương đã dần dần tách xa nhau và đến thời Thượng phụ Micae Xêrulariô (l054) thì ly khai nhau hẳn; tất cả các giáo đoàn thuộc nghi thức Hy lạp đều theo họ, lập ra Chính thống giáo. Ly giáo này không nhận quyền tối thượng thẩm và ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng Rôma.

Đến thế kỷ XIV, XV ở bên Tây phương, các vua chúa lại nhúng tay vào nội bộ của Hội thánh. Lúc nào họ cũng tìm cách đặt con cháu mình vào chức vụ Giám mục hoặc đan viện phụ để vây cánh thêm mạnh mẽ và nhất là để hưởng bổng lộc của nhà dòng, nhà chung. Phần đông các Giám mục và đan viện phụ ấy chỉ sinh hoạt ở triều đình, mỗi năm về địa phận hay đan viện vài lần để thu hoạch hoa lợi. Do đó đời sống tu trì sinh ra nguội lạnh, sút kém; hàng giáo sĩ thì không được đào luyện cho đủ khả năng đạo đức.

Các vua chúa còn dùng cả ảnh hưởng của mình để tranh ngôi Giáo Hoàng nữa. Có những thời kỳ vô cùng đen tối: Trong Hội Thánh có hai Giáo hoàng, không biết ai giả ai thiệt (thế kỷ 14, 15). Hay mấy chục năm liền các Giáo hoàng về ở tại Avignon, phải bỏ thành Rôm hoang vắng lạnh lẽo. Giáo sử gọi thời kỳ này là “thế kỷ sắt”.

Sáng thế ký XVI, Hội thánh lại gặp một cơn khủng hoảng về đức tin rất trầm trọng. Nhiều nơi chủ trương theo Giáo hội Tin lành, không thông hiệp hoặc cấm thông hiệp với Đức Giáo hoàng, như các giáo phái:       

– Luthêrô (1483-1546): Ông là thầy dòng Augustinô, người Đức, tính tình hung bạo cứng cổ, nhưng rất thông minh, làm giáo sư luân lý và Thánh kinh. Vốn sẵn tính bi quan lại bị lương tâm bối rối hành hạ, Luthêrô đưa ra lạc thuyết: Bản tính loài người sau nguyên tội đã ra bại hoại nên mọi hành động đều xấu xa tội lỗi. Muốn được cứu rỗi, chỉ cần tin vào công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, còn mọi cố gắng để lánh tội và tập nhân đức đều vô ích. Nên năm 1521, Đức Lêô X đã ban hành Tông hiến “Decet Ronlanum Pontificem ” kết án vạ tuyệt thông Luthêrô.

– Ziwigli (1484-1531): Đồng thời với Luthêrô ở Đức Ulrich Zwingli người Thụy Sĩ xây dựng lạc thuyết của mình dựa trên quan niệm: ý muốn của Thiên Chúa chỉ được biểu hiện trong Thánh kinh. Ông từ chối Thánh truyền và các luật lệ của Hội thánh, khởi xướng lý thuyết Giáo hội Quốc gia Dân chủ.

– Calvinô (1509-1564): Calvinô cũng chủ trương con người hoàn toàn xấu xa và chỉ chấp nhận hai Bí tích: Rửa tội và Thánh Thể. Suốt mười mấy năm liền, ông tổ chức Giáo hội Tin lành ở Thụy Sĩ và sau đó đã lan truyền sang các nước Đức, Thụy Điển, Ý và Pháp…

– Anh Giáo: Vì say mê cô hầu Anne Boleyn, vua Henri VIII (1491-1547), vua nước Anh, đã muốn ly dị vợ chính là Catharile xứ Aragon. Đức Thánh Cha Clêmentê VII không chấp nhận cuộc toan tính ấy. Nổi tức, Henri bèn lập ra Giáo hội quốc gia, phủ nhận quyền của Đức Giáo Hoàng. Đến đời vua Edouard VI (1547-1553) thì hoàn toàn ly khai Giáo hội. Năm 1563, Nữ hoàng Elisabeth (1558-1603) tuyên bố chiếu chỉ “Một tôn giáo duy nhất”, Anh giáo được thành lập.

Trong thời kỳ này, có thể nói Hội thánh phải hứng chịu một “cơn bắt đạo lạnh”. Các vua chúa đã có những thái độ khắc nghiệt như:

* Tịch thu nhà thờ và tài sản của Hội thánh Công giáo mà trao cho Tin lành.

* Giết chết, trục xuất những ai không bỏ Công giáo mà theo Anh giáo, kể cả các vị có chức lớn trong nhà nước như thánh Thomas More (Chưởng ấn), Hồng Y Gioan Fisller.

* Người Công giáo không được giữ một số chức vụ cao cấp như Thủ tướng, tướng lãnh quân đội.

Đến thế kỷ XIX, XX lại nổi lên những lạc thuyết như: Duy lý, Cải tân với Renau, Loisy… Thời đại hôm nay lại xuất hiện thêm thuyết Tục hóa, những khủng hoảng quyền bính, sự ra đi của nhiều linh mục, tu sĩ.

Nếu là một tổ chức trần thế thì qua bao nhiêu biến cố “tự hủy diệt” như trên, chắc Hội thánh đã sụp đỗ từ lâu rồi. Nhưng cứ mỗi lần có lạc thuyết nổi lên, Chúa lại cho xuất hiện nhiều người đứng lên bênh vực Hội thánh: Trong mấy thế kỷ xác định giáo thuyết ban đầu thì có thánh Augustinô (354-430), thánh Basiliô (329-379), thánh Grêgôriô Nazian (325-390), thánh Hilanô (315-369), thánh Athanasiô (295-373)… Những lúc thế quyền vật chất lan tràn vào cung thánh để lũng đoạn thì Thiên Chúa lại sai thánh Đaminh (1170-1221), thánh Phanxicô Assisiô (1182- 1226), thánh Bênađô (l090-1153) nêu gương sống khó nghèo, cầu nguyện đề thức tỉnh.

Lúc nhiều bậc vị vọng trong Hội thánh chỉ đi lại với triều đình vì thuộc dòng dõi của vua chúa, bỏ rơi đám dân nghèo, thì Chúa lại sai thánh Vinhsơn đệ Phaolô (1581-1660) lập dòng Bác ái chăm sóc người cùng khố, thánh Gioan Lasan (1631-1719) lập dòng Sư huynh dạy dỗ các trẻ bần dân, và thánh Gioan Thiên Chúa (1495-1550), thánh Camillô Lellis (1550-1614) phục vụ kẻ bệnh hoạn tật nguyền. 

Khi phải đương đầu với các thế quyền áp đặt đạo Tin lành ở nhiều nước Âu châu, Thiên Chúa lại sai thánh Phêrô Canisiô (1521-1597), thánh Phanxicô Salêsiô (167- 1622), thánh Ignatiô Loyola (1493-1556) lập dòng Tên để chống đỡ Hội thánh.

Năm 1545, Đức Thánh Cha Phaolô III đã triệu tập Công đồng Tridentinô để xác định rõ những điểm giáo lý bên Tin lành đã phủ nhận, tổ chức lại đời sống tu trì và việc huấn luyện linh mục trong các chủng viện. Thêm vào đó, thánh Vinhsơn đệ Phaolô lập dòng Lazariste, cha Olier lập hội Xuân Bích, thánh Carôlô Bonômêô (1538-1584) lập dòng thánh Ambrôsiô… Tất cả đều nhằm mục đích đào tạo hàng giáo sĩ, thực thi những điểm Công đồng Tridentinô đã quyết định.

Trước những khủng hoảng của thế kỷ XIX và XX này, các Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, Piô X, Piô XI, Piô XII, Gioan XXIII, Phaolô VI, Gioan Phaolô II đã can đảm sáng suốt vạch rõ những điểm sai lạc, đồng thời nỗ lực canh tân Hội thánh. Công cuộc sáng chói nhất của các ngài là Công đồng Vatican II mà mỗi người chúng ta đang thụ hưởng những thành quả tốt đẹp như:

* Canh tân đời sống Hội thánh đối nội cũng như đối ngoại,

* Tiến tới hiệp nhất với các anh em lạc giáo và ly  khai,

* Đối thoại với anh em ngoài Công giáo, anh em vô thần

Nói tóm, sau mỗi lần khủng hoảng, Hội thánh lại được Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn đề tiến tới trên con dường canh tân ngày càng tốt đẹp, tươi trẻ và hùng mạnh hơn (ĐVH 252, 253, 254).

Thử thách bên ngoài:

* Đừng ngạc nhiên khi người ta phá Hội thánh, vì đó là Nhiệm Thể Chúa Kitô, họ tiếp tục giết Chúa Kitô; không giết Chúa Kitô được nữa, người ta phá Hội thánh (ĐHV 251)

* Con tin Hội thánh vì Chúa Giêsu đã lập Hội thánh, và chỉ lập Hội thánh ấy thôi. Con đau khổ vì những bất toàn nơi bộ mặt nhân loại của Hội thánh, nhưng con liên đới với những bất toàn ấy. Con nỗ lực để tẩy luyện và thực hiện ý Chúa Giêsu nói Hội thánh (ĐHV 268).

– Mới vừa giảng đạo được ba năm, chính Chúa Giêsu, Đấng Sáng lập Hội thánh, phải bị án chết một cách nhuốc nha tức tưởi. Bấy giờ, các thủ lãnh Do Thái tưởng rằng đạo Công giáo đã bi chôn vùi làm một với Chúa.

– Tiếp đến, Hội thánh mới bành trướng đã phải trải qua 300 năm bách hại khắp đế quốc Rôma: Các Tông đồ đều chịu tử đạo, tất cả các Giáo hoàng kế vị thánh Phêrô đều phải đổ máu mình để minh chứng đức tin. Mãi cho đến năm 313, sắc chỉ Milan về tự do tín ngưỡng mới được ban hành. Ba trăm năm dài đẫm máu ấy đã để lại cho lịch sử và các Kitô hữu một bài học như sau: càng chém giết, càng bắt bớ, thì người ta càng làm đạo Chúa lan rộng mãi, như lời Tertullianô nói: “Máu các thánh Tử đạo là hạt giống trổ sinh con nhà có đạo”.

– Đến thế kỷ VI và VII, làn sóng các dân man di lại tràn ngập đế quốc Rôma, gây không biết bao điêu đứng khó khăn cho Hội thánh. Gót chân của các bô lão Goth,  Wisigoth, Normands, Germains, Vandales, Huns… đi đến đâu là gây sụp đổ tiêu tan đến đó. Nhưng với sự kiên trì dạy dỗ, Hội thánh đã cảm hoá được, lôi kéo họ trở về.

– Khi hầu hết các quốc gia Âu châu đã trở lại đạo Công giáo, ai cũng tưởng rằng, Giáo hội sẽ là một gia đình hòa thuận tốt đẹp, nhưng các vua chúa lại muốn xen vào nội bộ của Hội thánh để tranh giành ảnh hưởng. Họ tìm cách đề cử những Giám mục, Hồng y, Đan viện phụ có khuynh hướng theo mình Dể thu phục nhân tâm, tăng cường uy thế, thụ hưởng bổng lộc. Khiến các Giáo hoàng phải liên tiếp kiên cường bảo vệ sự tự do của Hội thánh khỏi nhưng tranh chấp vật chất và trần thế ấy. Lịch sử còn ghi lại những vụ Fréđêric, Barberousse ở Đức, Philippe le Bel ở Pháp chống đối và dùng vũ lực đối với Đức Giáo Hoàng nhưng đã không thể làm cho ngài nhượng bộ.

– Đến thời Cách mạng Pháp (1789-1799), không biết bao nhiêu linh mục, tu sĩ phải lưu đày, xử giảo hoặc bị nhận chìm xuống lòng biển Thái Bình Dương. Nhưng Hội Thánh không vì thế mà sụp đổ. Đến khi Napolêon lên ngôi, ông lại sang Ý bắt luôn cả Đức Giáo Hoàng Piô VII đem về cầm tù tại Fontainebleau, vì ngài đã phản dối việc ông ly di Josephine để cưới Marie-louise làm vợ. Một hôm vì quá tức giận, Napolêon I đã nói thẳng với Hồng Y Consalvi, Quốc vụ khanh Tòa Thánh: “Ông không biết sao: tôi có thể tiêu diệt cả Hội thánh“. Hồng Y Consalvi hóm hỉnh trả lời: “Thưa ngài, chính chúng tôi đây là kẻ ớ bên trong Hội thánh, mà dù với bao gương xấu, tội lỗi, chia rẽ khuyết điểm vẫn không phá nổi Hội Thánh, suốt 19 thế kỷ qua thì sức mấy mà ngài phá tan Hội thánh được!” Về sau, Napolêon đã phải tuyên bố: “Các dân nước qua đi, các ngai vàng sụp đổ Hội thánh vẫn tồn tại!

– Đến năm 1820, Cách mạng Tây Ban Nha lại giải tán nhiều dòng tu, giết chết khoảng 35.000 Linh mục; nhiều vị bị họ vất xuống đất cho xe chạy qua; số Tòa  Giám mục rút xuống còn 6.

– Trong trận thế chiến thứ hai, Phát-xít Đức cũng giết chết rất nhiều linh mục, tu sĩ. Tất cả đều bi họ tống vào các trại tập trung hoặc đốt trong lò thiêu xác.

– Rồi mới cách dây khoảng 20 năm đế quốc Xã hội Trung Hoa, với chủ trương bá quyền bành trướng của Mao Trạch Đông, lại gom tất cả các Giám mục Trung quốc giam vào các trại tập trung ở miền Bắc, khiến giờ đây có trên 120 địa phận vắng bóng Giám mục. Thật là tàn ác, vi phạm lộ liễu nhân quyền. Chính họ đã đặt ra 45 giám mục cho Hội thánh tự trị mà không có sự chấp thuận của Tòa Thánh. Thế nhưng, chỉ một năm sau cả 45 ông Giám mục này, vì không được nhân dân tín nhiệm, nên đã biến mất vào các trại tập trung.

Tóm lại, mặc dù phong ba bão táp không ngừng đánh vào thuyền của thánh Phêrô, thuyền Phêrô suốt 20 thế kỷ vẫn không bị chìm ngập. Giờ đây Nêron đã yên ngủ dưới nấm mồ; Philippe le Bel, Frédéric Barberousse, Napolêon, Bismark, Mao Trạch Đông, Hitler đang chu du nơi đâu, trong lúc Hội thánh vẫn muôn đời đứng vững và luôn luôn nghe văng vẳng bên tai câu nói của Thầy mình: “Này Ta ở với các con mọi ngày cho đến rận thế”(Mt 28:20).

SHARE
Previous articleCha Đamiêng
Next articleKhúc nhạc tuyệt vời