Gian khổ

499

* Bão tố quật ngã cây cối, bẻ gẫy cành khô, cành sâu. Nhưng không thể nhổ được cây thánh giá đã cắm vào lòng đất. Đừng tiếc những cành kia, dù không gió cũng gẫy, không gẫy cũng phải chặt vì nó làm hại (ĐHV 691).

* Chúa Giêsu đến đâu cũng có một số người sống chết cho Ngài, và cũng có một số người quyết giết chết Ngài. Sao con muốn mọi người yêu con? Sao nao núng khi có người ghét con? (ĐHV 692).

* Khi đau khổ cực độ, con hãy nhìn lên Thánh Giá, ôm choàng lấy Thánh Giá và con sẽ thinh lặng đứng vững như Đức Mẹ (ĐHV 694).

* Người ta vô ơn với con! Con làm ơn để họ cám ơn sao? (ĐHV 696).

* Con than phiền vì kẻ nghịch của con liên lỉ chen lấn, giành giật trở ngại công việc tông đồ của con? Sao con quên “Cây lúa và cỏ lùng”? Lúa cứ vươn lên! (ĐHV 697).

* Gian nan luyện người Chúa đã muốn cho chịu đau khổ để thông cảm với những người đau khổ. Như Chúa đã cầu cho nhân loại với tiếng thống thiết và nước mắt (ĐHV 703).

* Con phản đối: “Bất công!” – Lòng con tức tối trước việc xảy đến gây khổ tâm cho con. Hãy nghĩ lại xem: Chúa Giêsu đã làm gì nên tội mà phải chịu đóng đinh? Như thế có công bình không? (ĐHV 712).

* Hoa hồng, hoa huệ tốt thơm, rực rỡ bao lâu phân tro màu mỡ biến thành hương sắc. Việc tông đồ cũng tiến mạnh khi gian khổ được đổi thành yêu thương (ĐHV 713).

* Thử thách gian khổ là “giấy phép theo Chúa” để hưởng hạnh phúc hân hoan với Chúa: “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá…” (ĐHV 714).

Mỗi vị thánh đều có chịu gian khổ cách này hoặc cách khác. Môn đệ không thể khác Thầy!

Tất cả 12 Tông đồ đều đã theo gương Thầy Chí Thánh chịu hình khổ Tử đạo.

Tất cả các Giáo Hoàng kế vị thánh Phêrô suốt 300 năm đầu tiên đều đã hy sinh mạng sống vì Chúa.

-Thánh Athanasiô (295-373) trong những giây phút đen tối nhất của cuộc đời, vẫn không hề mảy may khiếp sợ trước uy quyền của hoàng đế, không một chút chịu theo những ý kiến trái ngược của các vị Giám mục chạy theo bè rối Ariô ở Công đồng Nikêa năm 325, và cũng không lo phải chịu cực hình gian khổ. Suốt 45 năm trời trong chức vụ chủ chăn, ngài đã phải lưu đày 5 lần tất cả, đúng như lời tiên báo của thánh Pakôme về ngài lúc ngài còn ở trong sa mạc Thébaides: “Athanasiô cột trụ và là đèn pha của Hội Thánh sẽ hứng chịu nỗi đoạn trường”. Quả vậy, bị rượt đuổi và để trốn tránh các cuộc bách hại, có lần ngài đã phải ẩn mình trong một hang động suốt 5 năm. Lần khác, kẻ thù công bố một giá rất cao cho những ai chặt được thủ cấp ngài, khiến ngài phải chạy trốn suốt đêm trên một chiếc thuyền con dọc theo bờ sông Nil, Ai Cập. Hoàng đế Constance, kẻ bội giáo Julien, Valens và các kẻ thù khác đều nghĩ: Nếu tóm cổ được Athanasiô họ sẽ tiêu diệt được đức tin của người Công giáo một cách dễ dàng. Rồi lúc đã 71 tuổi đầu, ngài còn ẩn núp trong ngôi mộ thân phụ ngài ròng rã suốt bốn tháng. Nhưng dù ở đâu, thánh Athanasiô vẫn luôn gần gũi tiếp xúc với các giáo dân động viên họ sống kiên cường trong một niềm tin đích thực…

-Thánh Hilariô (315-369), Giám mục giáo phận Poitiers tại Pháp, bị nhóm lạc giáo Ariô dùng mưu thuyết phục hoàng đế Constance đày sang xứ Phrygia (Cận đông), vì ngài đã dám triệu tập một Công đồng địa phương để chống họ. Trong cảnh cô đơn tù tội, ngài đã thốt lên: “Người ta có thế đày ải các Giám mục một cách êm thắm, nhưng họ có thể đày chân lý được không?”. Suốt thời gian lao tù ngài vẫn hướng dẫn giáo phận của ngài qua thư từ, giáo huấn, rồi còn viết được bộ tổng luận 12 cuốn về Chúa Ba Ngôi, chống lại bè rối Ariô nữa. Bốn năm sau, tại Đại hội Giám mục ở Séleucie (một thành phố trong xứ Phrygia), ngài đã thuyết phục được toàn thể các Giám mục theo lập trường của Hội Thánh. Phe lạc giáo sợ bị thất bại chua xót nên đã bàn với hoàng đế cho ngài hồi hương.

-Thánh Cyrillô thành Giêrusalem (315-386) đã thức tỉnh các Kitô hữu trước hiểm họa lạc giáo Ariô. Nhờ có trí thông minh, ngài đã bảo vệ Thần Tính của Chúa Kitô, chống lại những lý luận tinh vi nhưng sai lạc của họ. Phẫn uất vì thấy ngài là một lợi khí sắc bén làm cho hàng ngũ họ tan rã, họ đã tìm cách trục xuất ngài và lưu đày ngài nhiều phen, tổng cộng tất cả là 16 năm. Nhưng rồi đức tin, tài hùng biện và phẩm cách anh hùng của ngài tại Công đồng Constantinopoli (381) đã làm cho lạc giáo Ariô bị kết án lần thứ hai và biến ngài thành một trong những vị bảo vệ đức tin vĩ đại.

-Thánh Eusêbiô Vercellôsi (315-371), Giám mục giáo phận Vercelli (Ý), cũng vì trung thành với giáo lý chân chính của Hội Thánh mà bị vua Constance II (theo lạc thuyết Ariô) đày sang Scythopolis từ năm 335 đến 362. Ngài đã chịu đói khát, nhục hình đủ cách, nhưng luôn luôn tỏ ra trung thành với đức tin và thường xuyên thư từ liên lạc với các tín hữu để nâng đỡ tinh thần của họ.

-Thánh Gioan Thánh Giá (1542-1591), người Tây Ban Nha, đã nỗ lực giúp thánh Têrêxa thành Avila canh tân Dòng Carmêlô (nữ và nam). Nhưng thoạt tiên, cả nhà dòng đều chống lại cuộc cải cách của ngài. Năm 1577, ngài bị giam trong một căn phòng ở Talède và đã trốn thoát sau đó 9 tháng. Trong thời gian ấy, ngài đã sáng tác những vần thơ thần bí nổi tiếng nhất. Về sau cuộc cải cách của ngài được chấp thuận, ngài được giao phó nhiều chức vụ trong nhà dòng. Nhờ có đức từ bỏ trọn hảo và một lòng yêu mến Thánh giá nồng cháy, đời đời ngài đã nên như một ngọn lửa chiếu soi trong đêm tối, hướng dẫn nhiều người tiến lên đỉnh toàn thiện. Châm ngôn luôn luôn xuất hiện trên môi miệng ngài là “Toàn Hiến”. Ngài đã cho chúng ta một quy luật sống sau đây: “Nếu bạn muốn đạt đến việc chiếm hữu Chúa Kitô, bạn đừng bao giờ tìm kiếm Người với đôi vai vắng bóng Thánh giá”. Ngài còn viết: “Nếu nơi nào không có tình yêu, chúng ta hãy thắp lên ngọn lửa tình yêu vào đó và chúng ta sẽ nhận được ánh sáng của nó. Và khi cuộc đời chấm dứt, chúng ta sẽ được xét xử căn cứ vào tình yêu”. Các tác phẩm thần bí của ngài đã làm cho ngài trở thành tiến sĩ của đời sống chiêm niệm.

-Thánh nữ Elisabeth hoàng hậu nước Hungari (1207-1231). Tuy mang tiếng là vợ của một ông vua, nhưng cuộc đời cũng đầy gian lao đau khổ. Khi chồng bà là vua Louis từ trần trong một cuộc thánh chiến (1227) thì Henri là em ông lên tiếm vị. Vì sợ mất ngôi, ông đã trục xuất mẹ con bà ra khỏi hoàng cung. Bà phải bơ vơ tạm trú trong một chuồng ngựa mục nát và còn đi ăn xin để nuôi ba con nhỏ (lúc ấy bà mới 20 tuổi). Tuy đắng cay khổ nhục, bà vẫn vui lòng chấp nhận để nên giống Chúa. Về sau, lúc đoàn quân viễn chinh hồi hương, nhân dân bắt buộc Henri phải trả lại quyền bính cho người cháu, nên thánh nữ đưa con cái trở lại triều đình. Nhưng rồi vì muốn luôn mãi sống khó nghèo, nên ngài khoác lên mình bộ tu phục Dòng Ba Phanxicô, sống thinh lặng và cầu nguyện cho đến ngày trút hơi, lúc mới 24 tuổi.

* Không phải con chỉ can đảm nhẫn nại, nhưng giá trị cứu chuộc của đau khổ rất lớn lao, nếu con hiệp với sự thương khó Chúa Giêsu (ĐHV 706).

-Thánh Gioan Maria Vianney không chỉ chịu nhiều hình khổ gây nên do ma quỷ mà còn phải gian nan hơn nữa vì anh em khinh rẻ nhạo báng, chỉ trích công việc tông đồ của ngài.

Một đêm kia, ngài nghe cả nhà rung chuyển như bị động đất, chung quanh có tiếng giày đi thình thịch, ồn ào như cả đại đội lính, thật hết sức khủng khiếp. Giáo dân ở chung quanh nhà xứ cũng nghe như thế. Họ to nhỏ bàn tán với nhau: “Có ai đến khủng bố cha xứ mình chăng?” Tối hôm sau, thanh niên dân vệ cùng nhau bàn một kế hoạch: tất cả nhất trí mang súng vào quanh hành lang nhà xứ mà ngủ, quyết trừng trị cho bằng được bọn bất lương. Gần nửa đêm, nhà xứ bỗng rung chuyển dữ dội, tiếng ầm ầm nổi lên cơ hồ như sắp tận thế. Nhưng khi bật đèn lên thì thanh nhiên chẳng thấy ai hết. Lạ quá! Họ ngơ ngẩn một hồi, rồi vì quá kinh hãi, bèn cùng nhau ôm súng vắt giò lên cổ mà chạy. Hôm sau, chẳng còn một ai dám lai vãng chung quanh nhà cha xứ. Cha Vianney biết là ma quỷ muốn làm cho ngài phải kinh khiếp, mệt mỏi, mất ngủ, vì ngài đã cướp của chúng khá nhiều linh hồn ở tòa giải tội. Ngày nay, ai tới viếng thăm nhà xứ Ars vẫn còn thấy tang chứng rất rõ: một chiếc giường gỗ bị bọn chúng đốt cháy mất một phần. Lần khác, lúc thánh Vianney còn đang đánh tội, Satan bèn hiện ra làm hại người. Nó xô ngài ngã vào tường. Hiện nay mười ngón tay đầy máu của ngài chống vào tường và đôi vai cũng đầy máu của ngài ngã vào tường vẫn còn in dấu rõ ràng ngay tại nơi đánh tội. Có lần ma quỷ tức tối đã thét lên: “Mày cướp các linh hồn của tao! Mày phải chừa bớt!” Nhưng ngài thì cho biết: “Đêm nào ma quỷ cũng quấy rầy cha càng dữ thì ngày hôm sau cha bắt được những “con cá càng bự” đã bỏ xưng tội lâu năm”.

Tiếng đồn ma quỷ quấy nhiễu cha Vianney làm cho một số anh em linh mục phì cười mỉa mai: “Lại thêm chuyện phép lạ ở xứ Ars! Cái chú Vianney dốt đặc này không chịu an phận cho xong, lại nay bày chuyện này mai đồn tin khác. Toàn là những chuyện nhảm nhí, vô bổ, tung ra cũng chỉ cốt để quyến dụ bà già con trẻ đến cái xứ khỉ ho cò gáy ấy!” Cha Vianney nghe các lời mỉa mai chê trách ấy thì đều dâng cho Chúa và thinh lặng chịu đựng.

Một hôm, nhân dịp mở tuần đại phúc tại một xứ trong hạt, người ta đã mời cha Vianney cùng nhiều linh mục khác đến giúp. Sau bữa cơm tối, cha Vianney nhẹ nhàng nói với anh em: “Thưa các cha, con hay bị ma quỷ quấy phá, nhất là áp những hôm con cứu được nhiều linh hồn tội lỗi nặng. Vì thế, để đề phòng, con xin trình các cha trước, nếu đêm nay ma quỷ có làm gì thì xin các cha cứ biết vậy và an tâm, nó phá một lúc rồi sẽ hết!” Cha Vianney vừa dứt lời, các cha khác đã cười rồ lên:

– Lại chuyện ma quỷ! Sao mà nghe cha nói toàn là chuyện giật gân tào lao không à! Có thật không? Hay cha bị ám ảnh thế?

– Đây là dịp tốt, cha khác bảo, mình cứ nghe hoài câu chuyện ma quỷ phá rối cha Vianney mà chẳng bao giờ chứng kiến được, may ra tối nay mình sẽ được một pha xem tận mắt! Cha Vianney cứ yên trí “ngủ đi”! Tụi này không sợ ma quỷ gì đâu, trái lại còn mong xem thấy tận mắt là khác!

Cả nhà tắt đèn đi ngủ. Nửa đêm, giữa lúc mọi người đang say sưa giấc điệp thì nhà xứ rung động dữ dội, ghế bàn chạy đi lay lại, đồ đạc thì lăn lóc rơi xuống vung vãi trên sàn nhà, cột nhà thì kêu răng rắc như muốn gãy đôi.. Các cụ hớt hơ hớt hãi mang áo ngủ lùng thùng chạy ra sân, mình toát cả mồ hôi hột, miệng không ngớt kêu lên:

– Dễ sợ quá! Chưa bao giờ thấy chuyện khủng khiếp như thế này! Cái gì thế? Động đất lớn à?

– Thế còn ông Vianney đâu mất?

– Chắc ông ở trên phòng! Đợi yên ta lên tìm xem.

Các cụ kéo nhau lên gác, gõ cửa: “Cộc cộc”. Có tiếng guốc khua trên sàn nhà, cha Vianney mở cửa, các cụ ái ngại hỏi:

– Cha đang ngủ à?

– Vâng, con đang ngủ!

– Thế cha không nghe gì cả sao? Chúng tôi kinh khiếp quá!

– Có, con có nghe. Thì… hồi tối, ở nhà cơm, con có trình với các cha rồi! Ma quỷ nó hay quấy phá con như thế lắm! Xin các cha cứ yên tâm, có đêm nó làm con nhiều lần như thế, nhưng không sao cả! Vì nó thua to, nó căng thì nó quấy phá vậy thôi!

Nói xong, ngài chào các cha và đi ngủ. Các cụ cũng trở về lại phòng, nhưng suốt đêm không sao nhắm mắt được. Cơn ác mộng kinh hoàng vừa xảy ra cứ bám chặt vào tâm trí các cụ như đỉa đói.

Sáng hôm sau, vào giờ điểm tâm, các cụ lại nhắc đến câu chuyện khiếp sợ hồi hôm và nói: “Cha Vianney, bây giờ chúng tôi tin thực đúng là “băng hỏa ngục” nó quấy phá cha. Mấy lâu nay chúng tôi chế nhạo cha, nhưng đêm vừa rồi chúng tôi phải một phen thật kinh hồn khiếp vía và cảm thấy xấu hổ với cha quá! Xin cha thông cảm và thứ tha lỗi lầm cho anh em chúng tôi. Nhưng nay chúng tôi yêu cầu cha một điều: suốt tuần đại phúc này, chiều nào cha cũng phải về xứ Ars để ngủ rồi sáng mai lại chịu khó đến đây. Chứ nếu cha ngủ đây thì chúng tôi phải di tản hết. Khiếp quá chịu không thấu!”

– Con xin vâng lời các cha. Khởi sự chiều nay, con sẽ về nhà ngủ. (ĐHV 705, 706).

Cô Bernađêta được thấy Đức Mẹ hiện ra nhiều lần tại Lộ Đức cũng như các em Giaxinta, Phanxicô và Luxia được thấy Đức Mẹ hiện ra nhiều lần tại Fatima và trao sứ mệnh phổ biến sứ điệp của Mẹ cho toàn thể thế giới đã phải chịu nhiều đau khổ, gian lao. Nào bị cha mẹ rầy la, chửi mắng, đánh đập vì câu chuyện gây phiền nhiễu cho gia đình, nào bị bà con lối xóm chê bai, lăng mạ là đồ gian dối, là lũ ranh con cả gan lường gạt giáo dân; cha xứ cũng cật vấn các em đủ cách, bảo các em đừng tuyên truyền ba chuyện nhảm nhí, xoay các em, bắt các em nói sự thật, nhưng các em chẳng biết làm sao hơn nữa đành khóc sướt mướt, an ủi, động viên nhau cầu nguyện và hy sinh thêm. Cha chánh xứ của Bernađêta lại còn bảo: “Ma quỷ đấy, không phải thần thánh gì đâu! Lần sau có ra hang đá, con phải xách nước thánh theo, hễ thấy Bà ấy hiện ra thì rẩy vào người Bà”. Bernađêta rất đau lòng nhưng vẫn tuân lệnh. Khi em rẩy nước thánh vào Bà, Bà chỉ mỉm cười chứ không chạy trốn!

Các em còn phải đau khổ vì các cơ quan an ninh địa phương. Họ cho các em là bọn bịp bợm, mê tín, buôn thần bán thánh, làm rối loạn an ninh trật tự, nên bắt giam, thẩm vấn, đe dọa đủ điều.

Nhưng điều làm cho các em phải dày vò ray rứt hơn cả là bị người ta cấm không cho ra hang đá, ra cây sồi, theo đúng lời đã hẹn với Mẹ. Không lẽ bất tuân lời Mẹ? Nhưng đàng khác, làm sao có thể đi? Mọi người đều ngăm đe nhiếc mắng thế kia! Tuy nhiên, các em vẫn can đảm, nhẫn nại, Mẹ đã thanh luyện các em trong lò gian nan đau khổ để các em nên xứng đáng là những sứ giả tí hon mang sứ điệp Mẹ đến cho toàn thế giới.

Trên đây chỉ đan cử một vài gương sáng của năm ba vị thánh, vì trong tập này đã có dịp nhắc đến gian khổ của nhiều vị thánh khác như Têrêxa d’Avila, Gioan Lasan, Gioan Boscô, Anphongsô, Margarita Maria, các thánh Tử Đạo…

SHARE
Previous articleSống bình an
Next articleCon vịt biết bơi