Chứng tích tình yêu

409

* Hy sinh con, đừng hy sinh kẻ khác (ĐHV 158).

* “Vì Chúa yêu thương môn đệ, Ngài đã yêu thương đến cùng!” Tận cùng ấy là thánh giá. Hy sinh của con phải trọn vẹn, phải là lễ toàn thiêu, nếu “Yêu tận cùng” (ĐHV 161).

* Trong một cuộc hành hương long trọng, nghìn vạn người tham gia, ai cũng muốn vác thánh giá đi tiên phong. Nhưng trong cuộc hành hương của mỗi ngày, mấy ai sẵn lòng vác thánh giá của mình? Anh hùng thinh lặng khó lắm (ĐHV 171).

Cha Maximilien Kolbe, người Balan, là một tu sĩ dòng Phanxicô rất hăng say hoạt động. Ngài đã tình nguyện sang truyền giáo ở Nhật, đặc biệt chuyên ngành ấn loát sách báo để truyền giáo. Ngài cũng đã có dịp ghé qua Sàigòn, nhưng vì bệnh lao phổi, phải trở về Balan điều tri. Tại quê nhà, cha Kolke vừa chữa bệnh, vừa hoạt động không ngừng. Ngài dùng sách báo để truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ. Ngài trông cậy, kính yêu Đức Mẹ nhiều đến nỗi được người ta gán cho biệt hiệu: “Người con điên của Đức Mẹ”.

Lúc Phát-xít Đức chiếm đóng Balan, chúng thấy ảnh hưởng ngài trên quần chúng quá mạnh nên đã tống ngài vào ngục.

Ngày nọ, trại giam của ngài có một tù nhân vượt ngục. Sáng hôm sau, lúc điểm danh thấy thiếu mất một người, viên sĩ quan áp dụng ngay luật lệ của Phát-xít Đức: hễ một tù nhân trốn thoát, mười người tù khác phải đền mạng.

Trên sân nhà tù, ai nấy đều thinh lặng và khiếp đảm.

Viên sĩ quan coi tù vừa giận dữ rảo bước vừa đưa tay chỉ định: tên này… tên này… Ai lâm vào số đoạn trường thì phải sang sắp hàng một bên. Chợt có tiếng kêu thất thanh: “Khốn cho tôi, tôi còn vợ và một đàn con nhỏ”.

Giữa bầu khí thinh lặng rùng rợn ấy, một tù nhân bước ra khỏi hàng, đứng nghiêm trong im lặng. Viên sĩ quan Đức quát hỏi:

– Mi là ai?
– Maximilien Kolbe, Linh mục Công giáo
– Mi muốn gì?
– Tôi xin tình nguyện chết thay cho anh bạn tù này (ngài đưa tay chỉ người vừa la thất thanh), vì anh còn con thơ vợ dại.
– Muốn ngu thì cho ngu? Vào sắp hàng thế, còn thằng kia được tha!

Mọi tù nhân có mặt trên sân đều ngơ ngẩn, ngạc nhiên, thán phục… Viên sĩ quan Đức hô lớn: “Sắp sẵn! Đi!” Mười người lặng lẽ đi vào phòng giam đói của nhà ngục. Theo lời các tù nhân thuật lại, thường những kẻ bị giam đói khóc lóc, chửi rủa cho đến khi tắt hơi. Nhưng lần này thì khác Cha Kolbe luôn miệng khuyến khích thúc giục mọi người cầu nguyện. Các tù nhân bên ngoài nghe tiếng họ hát và đọc kinh, ban đầu lớn, càng về sau càng yếu dần đi, rồi đến một lúc thì hoàn toàn im lặng. Ngày thứ 12, cửa phòng giam đói được mở ra. Mọi người đều đã chết, trừ một mình cha Kolbe, với đôi mắt vẫn sáng dù thân hình tàn rũ. Viên cai ngục bắt ngài đưa tay ra và chích cho một mũi thuốc độc ân huệ. Vị linh mục chết ngay. Họ đưa xe đến xúc xác ngài và các bạn tù đổ vào lò đốt.

Mấy chục năm sau, vào năm 1971, Toà Thánh đã tôn phong ngài lên bậc Chân phước, sau khi cứu xét kỹ lưỡng các nhân đức anh hùng của vi Linh mục. Giây phút cảm động nhất trong thánh lễ do Đức Phaolô VI chủ tế trong buổi lễ tôn phong ấy là hồi dâng lễ vật: một đoàn người tiến lên mang bánh, rượu, nến và hoa hồng trắng đỏ: hoa hồng trắng chỉ sự khiết trinh, hoa hồng đỏ chỉ sự hy sinh tử đạo. Đoàn dâng lễ gồm có người Balan, đồng hương của ngài, và vài thiếu nữ mặc quốc phục Nhật Bản, nơi ngài đã đến truyền giáo. Cảm động hơn cả là lúc Đức Thánh Cha ôm hôn ông già bưng cái chén thánh tiến lên: đó chính là tù nhân đã được cha Kolbe thế mạng. Trong lúc ấy, toàn thể cộng đoàn hát vang khúc tình ca: “Không có tình yêu nào cao qúy bằng chết thay cho bạn hữu” . Chứng tích sờ sờ ước mắt khiến nhiều người hôm ấy không cầm nồi giọt lệ.

SHARE
Previous articleThằng qủy làm dấu Thánh giá
Next articleTự do