Chứng nhân

305

Ngày 1 tháng hai 1954, một mùa đông rét mướt chưa từng thấy ở Pháp, lạnh dưới 20 độ, làm cho Abbé Pierre phải lên tiếng trên đài Radio Luxembourg trong giờ tin tức hàng ngày. Người đọc một mạch lúc 13g10 phút:

“Hỡi các bạn, xin cứu giúp! Một người đàn bà vừa chết cóng lạnh lúc 3 giờ sáng nay, giữa lớp tuyết, trên vỉa hè của đại lộ Sébastopol, hai tay còn năm chặt tờ giấy tòa ra lệnh trục xuất khỏi nhà hôm qua… Mỗi đêm có đến hơn 2000 người như thế, nằm co quắp trên vỉa hè ngập tuyết rơi, bụng đói lả nhiều người hầu như không mảnh vải che thân! Hãy nghe tôi đây: hai trung tâm tạm để đón nhận vừa được thiết lập thì đã chật cứng rồi. Phải lập các trung tâm như thế khắp nơi. Ngay đêm nay, trong tất cả các tỉnh của nước Pháp, của mỗi một quận ở Paris đều phải có những bảng treo có gắn đèn chiếu sáng tại những nơi có mền chiếu, rơm rạ, có cháo ăn…; và nơi đó phải ghi rõ: Trung tâm huynh đệ cấp bách. Bạn đau khổ, dù bạn là ai, hãy bước vào, ngủ nghỉ, ăn uống, tìm lại hy vọng. Đây người ta mến bạn.

Sở khí tượng vừa cho biết sẽ có một tháng lạnh giá kinh khủng. Trước cảnh những người anh em chết vì nghèo đói, ai nấy phải một dạ một lòng: làm hết sức để việc đón tiếp được kéo dài mãi. Mỗi người phải ra tay giúp đỡ kẻ vô gia cư. Tối nay, và trễ lắm là ngày mai, phải có 5.000 cái mền, 300 bạt lớn của lính Mỹ, 200 soong nồi. Các bạn hãy đem đến gấp tại Khách sạn Rochester, số 92 Rue de la Boétie.”

Tình liên đới

Lời kêu gọi mạnh mẽ phát tự con tim đã đánh động lòng dân chúng. Đó là bước đầu cho làn sóng tiên khởi về tình liên đới ở Pháp, đông đảo và hiệu nghiệm nhất. Trong vòng 20 phút sau lời kêu gọi, dân chúng đã nối đuôi nhau trước Khách sạn Rochester để đem áo quần đến, trao các ngân phiếu, để lại các nữ trang…

Chiều lúc 18h30, Abbé Pierre lại lên tiếng kêu gọi tiếp: “Những ai tình nguyện và những kẻ có xe cộ để đi chở các kẻ vô gia cư về, xin hẹn nhau tối nay, lúc 23 giờ, tại các bạt ở Montagne Sainte-Geneviève…” (chỗ cao nhất của Khu Latin ở Paris). Nhờ các bạn mà không một người nào, một đứa trẻ nào tối nay sẽ phải ngủ trên lề đường hay trên các ven sông của Paris. Cám ơn các bạn”

Đến giờ hẹn, hàng trăm người và 500 xe cộ (xe đạp chen lẫn xe hơi bóng loáng) bất chấp tuyết lạnh, đã có mặt để đi chở kẻ vô gia cư. Abbé Pierre mặc áo bu-giông, ngoài khoác thêm cái áo choàng rộng màu đen, đầu đội bê-rê, đang đứng trên một cái bức tường nhỏ thấp để cổ võ dân chúng. Hàng chục ký giả, rọi đèn chiếu sáng thâu hình, ghi lại hình ảnh con người mà từ đó trở nên như một huyền thoại về lòng bác ái đối với dân nghèo lao động không nhà ở! “Trong khi các trẻ em chết, lời người nói, vì cha mẹ chúng không có nhà ở, thì việc sử dụng nhà cửa sai lạc hay bỏ trống là phạm tội sát nhân”.

Abbé Pierre là ai?

1912: Người tên thật là Henri Grouès. Sinh ra ngày 5 tháng tám tại Lyon, cầm tinh Con Chuột, trong một gia đình khá giả và đạo đức.

1918: Lúc lên 6 tuổi, vào học trường các cha Dòng Tên tại Lyon.

1921: Chính thức từ bỏ phần gia tài cha mẹ để lại cho mình, và phân phát tiền của cho các công việc từ thiện, rồi vào Dòng Capucins, một Dòng sống nghèo khó nhất., được gọi là thầy Philippe.

1938: Thầy được chịu chức Linh mục, lúc 26 tuổi.

1939-40: Ngài được gọi nhập ngũ, cấp bậc hạ sĩ quan… Bị sưng phổi nên được nghỉ dưỡng bệnh…

1942-44: Có hai người Do thái bị Đức ruồng bố, chạy đến thánh đường Giuse ở Grenoble, nơi ngài làm cha phó, xin ngài giúp đỡ. Chứng kiến nạn độc tài bất công ấy, ngài gia nhập vào kháng chiến, và đưa người Do thái qua Thụy Sĩ, trong đó có cả người em trai út của tướng De Gaulle.Tháng năm 1944, bị Đức bắt, nhưng ngài trốn thoát được, vượt biên giới qua Tây ban nha, rồi đi Alger, và gặp tướng De Gaulle lần đầu vào tháng sáu năm ấy.

Bí danh lừng danh

Trong thời ngài vào kháng chiến, ngài lấy bí danh Abbé Pierre, không ngờ về sau được lưu truyền như tên của ngài vậy. Có lẽ nhiều người, ngày nay, chỉ biết đến ngài qua tên gọi đó. (Cho nên có tác giả dịch ra và gọi là “Cha Phêrô” hay “LM Pierre”, thì thực khó hiểu!)

1945-51, Ngài được bầu làm Dân Biểu vùng Meurthe-et-Moselle.

1949: Ngài phẫn nộ trước những thảm cảnh của những kẻ sống ngoài lề xã hội, nên đã giúp họ dựng nhà cửa trú ngụ, nhiều khi không hợp pháp. Ngài nói: “trước khi có luật nhà nước, thì đã có Luật tuyệt đối là luật trên các lề luật. (la Loi des lois). Để cứu giúp một con người không nhà, không cơm ăn, không thuốc uống, thì phải biết bất chấp các lề luật” (11.1.1995)

11.1949: người ta yêu cầu ngài đến gặp một người tên là Georges. Anh này cô đơn, thất vọng, muốn tự tử sau khi mãn hạn tù 20 năm. Thay vì bố thí chút tiền bạc kèm một vài lời an ủi, ngài đề nghị với anh ta về ở với mình, giúp mình (m’aider à aider) gầy dựng chỗ ở cho những gia đình không nhà cửa, dù căn nhà tạm thời. Làm như thế, ngài đã đem lại cho anh kia điều anh cần hơn cả: một lẽ sống. Ngài nói: Je n’ai rien à t’offrir. Viens m’aider à aider les autres. “Tôi không có gì để cho anh. Anh hãy đến giúp tôi để giúp cho các kẻ khác). Thực như là: “Tôi không cho anh con cá, nhưng tôi cho anh cần câu con cá.”

Ngài có lối nói ngắn gọn, kêu gào vừa đủ, nhưng rất hiệu nghiệm. Đức cha Gaillot than phiền rằng giáo hội để cho vị sáng lập Emmau tự do phát biểu, trong khi “tôi mới mở miệng nói là bị rầy la ngay” thì ngài cho biết: “Thứ nhất là tôi không phải là giám mục. Thứ hai là Chúa cho tôi tính bẩm sinh là biết kêu gào có chừng mực. Tôi cảm thấy tôi phải hò hét đến đâu thì ngừng. Hét thêm nữa thì làm cho tôi thích thú, nhưng không còn hiệu nghiệm, bởi vì người nghe tôi nói, không muốn nghe tôi nữa”

Cuộc gặp gỡ anh Georges đã trở nên cơ hội, một cách bán chính thức, cho Phong trào Emmau ra đời… Vì nạn thiếu hụt nhà cửa hết sức trầm trọng, nên ngài đã phải đón nhận một số người vô gia cư về ở với ngài. Căn nhà của ngài vô tình đã trở nên Trung tâm Emmau tượng trưng tiên khởi.

Bạn đồng hành

Năm 1950, nhiều người thiện chí đã đến cộng tác với ngài, mà ngài gọi là les compagnons, bạn đồng hành, (khác nào hai môn đệ đồng hành đi làng Emmau). Họ đã xây cất được một số nhà ở một cách khẩn cấp, nhưng phong trào lại thiếu phương tiện và nhiều khi không có phép xây cất. Vì thế, nhiều khi họ phải xây cất ngoài luật phép. Nhà ở là một quyền lợi tối thiểu của con người, nên không gì làm cho họ thối chí. Có an-cư mới lạc nghiệp!

Năm 1951, ngài không còn là dân biểu nữa và cũng mất luôn tiền phụ cấp dân biểu. Phong trào vừa thành lập, nay không còn phương tiện để sinh sống, vì trước kia, ngài lấy tiền phụ cấp dân biểu của ngài để chi tiêu cho công cuộc từ thiện của ngài.

Nghề lượm giẻ rách

Để sống còn và tiếp tục công cuộc nâng đỡ các kẻ quá túng thiếu, phong trào quay qua công việc lượm giẻ rách (les Chiffonniers), nhặt những gì người ta bỏ như quần áo cũ, bàn ghế, đồ dùng… đem về lựa lại, giặt ủi, sửa chữa, sơn quét rồi phân phát cho kẻ nghèo, hay bán lấy tiền gây quỹ cho hội. Đó cũng là tay làm hàm nhai để giữ gìn phẩm giá con người.

Dần dà, những người tình nguyện khác cũng đến tiếp tay với các người đến trước để xây cất nhà cửa và đi thu nhặt đồ đoàn người ta không dùng. Ngày nay thì các xe chở hàng, các cửa tiệm mang tên Emmau đã có mặt hầu như khắp nơi. Chính kẻ viết bài này, khi mới qua Pháp năm 1975, cũng đã (không ngờ) tìm đến tiệm Emmau trong vùng, mua một cái nồi gang cũ nhưng còn rất tốt, và một cuốn tự điển Larousse rách bìa nhưng thuộc loại thời mình còn trên ghế Lycée! Mỗi thứ là… 10 francs. Hiện giờ, sau hơn 25 năm, hai đồ dùng vật chất, tinh thần đó vẫn còn là vật lưu niệm!

Đi vào huyền thoại

Trước mùa đông 1954 với cái lạnh bất ngờ làm hàng ngàn người không nhà ở, Abbé Pierre đã yêu cầu Quốc hội Pháp biểu quyết cho ngài một tỷ bạc để lo xây cất nhà cửa cho những người quá nghèo đói, nhưng lời ngài yêu cầu vô hiệu quả. Thế mà ba tuần sau, cũng Quốc hội đó, đã trăm người như một, bỏ phiếu chấp nhận ngân khoản, không những 1 tỷ đồng, mà 10 tỷ đồng để xây cất gấp 12.000 căn nhà cho những kẻ vô gia cư. Abbé Pierre từ đó, đã trở nên nhân vật điển hình cho tình thương đối với dân nghèo của xã hội Pháp, và mẫu gương cho bao công việc từ thiện sau này.

Vết dầu loang

Tháng hai, HLM Emmau ra đời, điều khiển dưới tay đến 10.000 gian nhà cho người nghèo thuê, nhất là vùng Ile de France; rồi Tổng hội gia cư thành lập năm 1954, mục đích bênh vực cho quyền mỗi người một căn nhà; Hội Emmau Paris (1954) ra đời nhắm giúp những kẻ đơn côi và những gia đình gặp khó khăn (chỗ ở, nạn mù chữ, cấp cứu…); SOS Gia đình (1967) giúp đỡ cho những gia đình nợ nần lút đầu lút cổ, bằng cách lấy tiền của Hội cho vay không lãi; rồi Hội Abbé Pierre về nhà cửa, thành lập năm 1988, rồi đến Emmau alternatives (1991) đón nhận những kẻ sống ngoài lề xã hội (đau ốm, kẻ chờ được hưởng RMI (nguồn tài chánh tối thiểu v.v…)

Thoát chết

Năm 1963, ngài được thoát nạn trong vụ đắm tàu đi từ Uruguay đến Argentine, nên người ta yêu cầu ngài mau thành lập Phong trào Emmau quốc tế, để thắt chặt dây liên kết, có thêm ngân quỹ để can thiệp được nhiều mặt hơn. Năm 1969 cuộc gặp gỡ quốc tế đầu tiên của các phong trào Emmau ra đời. Một hiệp hội đứng ngoài chính phủ, không nhắm sinh lợi lộc, gồm 376 hội địa phương, rải rác trong 38 nước.

Emmau France

Tổ chức này nằm trong tổ chức Emmau quốc tế, hiện có 115 cộng đoàn gồm 4.000 nam và nữ đang sống bằng công việc mình làm. Phong trào này chú tâm đến việc giúp những kẻ không nhà, có nơi ở, không thiếu những thứ cần thiết tối thiểu. Ngoài ra Phong trào cũng không quên giúp đỡ những người bị SIDA.

Ngày 18 tháng chạp 2001, phong trào Emmau ra đã cấp hai triệu francs để lo cho những kẻ vô gia cư có nơi trú ngụ, có tiền mua sắm chăn mền, giày dép, những kẻ sống ngoài đường có tiền trả khách sạn để ngủ về đêm. Ngoài ra số tiền còn lại cũng hợp với các Hội cứu trợ Kitô giáo để khai trương những trung tâm đón nhận dành cho phụ nữ có con hay không.

Được mộ mến nhất

Khi ngài được 70 tuổi (1982), ngài tự ý rút lui, trao lại hết mọi trách nhiệm cho Phong trào, và về sống trong đan viện de Saint- Wandrille. Nhưng ngài vẫn hiện diện trên chính trường xã hội, qua một vài cuộc phỏng vấn, nhưng không còn tranh đấu xuống đường như xưa với nhiều nhân vật nổi tiếng như GS Albert Jacquard và BS. Léon Schwartzenberg… Vì thế, hình ảnh vị LM thấp dáng, khoác chiếc áo choàng dạ màu đen với cái bêrê basque cùng chống cái gậy vẫn còn là hình ảnh mà người dân Pháp mộ mến nhất.

Viện thăm dò dư luận của Pháp, cuối năm 2001, đã phỏng vấn 1041 người, đưa cho họ danh sách 50 người nổi tiếng trong mọi thành phần (ca sĩ, nhạc sĩ, lực sĩ, tài tử, chính trị, tu hành…) và yêu cầu họ lựa chọn 10 người theo thứ tự cao thấp, dựa vào lòng mến của dân chúng, thì kết quả là Cha Abbé Pierre đứng đầu trước 9 người thuộc mọi giới nói trên.

Được biết vinh dự ấy, ngài nói: “Nếu người Pháp còn mộ mến tôi là vì dân chúng, bất cứ thời đại nào, luôn luôn cần bám vào những gì tuyệt đối, vào niềm tin sâu đậm. Họ cần hình ảnh một người tượng trưng cho những giá trị nền tảng, trong trắng. Hôm nay, tôi không còn đủ sức để xuống đường đấu tranh với những kẻ cần những điều đó, tôi không còn hơi sức nữa, nhưng tôi không ngừng công cuộc đấu tranh.” Rồi ngài thêm: “Bao lâu ở Pháp còn hơn 1 triệu gia đình không nhà ở tử tế và 800.000 người vô gia cư, thì không có gì là vinh dự, cho tôi hay cho một ai khác!”

Thật là lời tuyên bố mạnh mẽ của một vị linh mục xứng đáng là CHỨNG NHÂN cho đạo Tình thương của đức Giêsu Kitô mà ngài rao giảng bằng gương sáng đời sống!

1955: Cha Abbé Pierre đề tặng tổng thống Eisenhower cuốn Les Chiffonniers d ‘Emmaus của tác giả Boris Simon: “Nếu chúng ta không đủ khả năng yêu cầu tuổi trẻ hăng say chiến đấu chống khó nghèo và chịu nhiều hy sinh như chúng ta đă yêu cầu họ hy sinh trong trận giặc chống bạo tàn, thì sự chiến thắng của công lý sẽ mau tàn phai”

1958-59: Ngài thuyết trình bên Á căn đình, Chí Lợi, Colombie, Equateur, Pérou.

1959: Thuyết trình ở Libăng, cộng đoàn Emmau Beyrouth được thành lập…

1959-65: Thuyết trình ở Đức, Ý, Canada, Nhật, Corée, Rwanda, Indonésie.

1962: Tĩnh tâm 3 tháng ở Beni-Abbès, nơi trung tâm Cha Charles de Foucauld.

1975: Được mề đay vàng Albert Schweitzer do chính phủ Pháp trao tặng.

1981: Được Đệ tứ Bắc đẩu Bội tinh trong việc cổ võ Nhân quyền

1984: Phong trào Emmau mở chiến dịch gây Ngân hàng lương thực (Banque alimentaire) tại Pháp và lập Quán tình thương (Restos du coeur)

1986: Mùa đông đầu tiên của chiến dịch Restos du Coeur. Coluche, người khởi xướng chiến dịch, giao lại cho Cha Abbé Pierre số tiền thặng dư thâu được, không dùng đến..

1987: Ngài được Đệ tam Bắc đẩu Bội tinh vì hoạt động trong lãnh vực nhà cửa.

1988: Cuộc họp Emmau quốc tế gửi bản kiến nghị lên Quỹ Tiền tệ Quốc tế yêu cầu xét lại vấn đề nợ nần của những nước Đệ tam Thế giới..

26.6.1988: Ngài đọc điếu văn trước mồ huyệt của Coluche ở Montrouge.

1989: Cuốn phim “Hiver 54” ra đời.

1990: Ngài được mời tham khảo ý kiến về dự luật “Loi Besson” Loi Besson được áp dụng vào 1/1/1999. Có lợi cho người thuê nhà, và cho chủ nhà, vì được giảm thuế..

1992: Từ chối Đệ nhị đẳng Bắc đẩu bội tinh để yêu cầu thủ tướng Pháp bấy giờ, Pierre Bérégovoy, cho thành lập “Ủy Ban tối cao phụ trách về nhà cửa cho kẻ vô gia cư”.

2001: Ngài nhận Đệ nhị đẳng Bắc đẩu Bội tinh do chính tay Tổng thống Jacques Chirac trao tặng, vì bấy giờ, lời ngài yêu cầu năm 1992 đã được toại nguyện!

SHARE
Previous articleĐạp xe với Chúa
Next articleMột phút